CHUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

Tập 2 - Chương IV -  Phẩm vô song

Chuyện số 181:CHUYỆN VƯƠNG TỬ VÔ SONG (Tiền thân Asadisa)

Vô Song Vương Tử, khéo nghề cung…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Đại sự xuất thế của mình. Đức Thế Tôn nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất Như Lai thực hiện Đại sự xuất thế. Mà vào đời trước, Như Lai cũng từng từ bỏ vương vị và xuất gia như vậy.

Nói rồi, Ngài đã kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát nhập thai làm con Hoàng hậu và sau đó được sanh nỡ an lành. Vào ngày lễ đặt tên, họ đặt tên cho ngài là Vương tử Vô Song (Asidisa Kumāra). Chừng đến lúc chàng có thể đi lại được thì Hoàng hậu mang thai và sinh thêm một hoàng tử nữa, cũng là một người hiền trí. Vào ngày lễ đặt tên, họ đặt tên cho vị hoàng tử này là Vương tử Phạm Dự (Brahmadatta).

Khi lên mười sau tuổi, Vương tử Vô Sông đi đến Xoa-thi-la (Takkasilā) để học tập. Ở đó, bên chân một bậc thầy danh tiếng thế gian, Vương tử học được ba bộ Vệ-đà và Mười tám tài nghệ. Trong khoa học bắn cung, Vương tử là người vô song. Sau đó, Vương tử quay về lại Ba-la-nại.

Khi sắp băng hà, nhà vua ban lệnh di chúc rằng: Sau khi ông băng hà, Vương tử Vô Song sẽ là người thừa kế vương vị, còn Vương tử Phạm Dự là hoàng thái tử. Vậy nên sau khi ông qua đời, vương quyền được trao cho Vô Song, nhưng Vương tử đã từ chối và nói rằng mình không màng đến điều đó. Vì thế, triều thần làm lễ quán đảnh và tôn Phạm Dự lên làm vua. Vô Song không màng danh vọng, cũng không tham muốn thứ gì cả.

Trong khi người em trị vì, Vô Song sống như một bậc đế vương. Thế rồi, những người hầu đã đi đến chỗ người em để vu khống Bồ-tát. Họ nói:

– Thưa đại vương, Vương tử Vô Song có ý muốn làm vua!

Phạm Dự tin theo lời lừa dối của họ, nên đưa một vài người đến bắt lấy Vô Song.

Một trong những người hầu của Vô Song đã nói cho Ngài biết những gì sắp xảy ra. Vô Song tức giận em mình và trốn đến một nước khác. Khi đến đó, Vô Song gởi lời vào tâu với nhà vua rằng có một người bắn cung đến và đang chờ vua. Nghe thế, nhà vua hỏi:

– Anh ta đòi tiền lương bao nhiêu?

– Tâu đại vương, anh ta đòi một trăm ngàn một năm.

– Được, cho anh ta vào.

Vô Song vào diện kiến và đứng chầu. Nhà vua hỏi:

– Khanh có phải là người bắn cung không?

– Tâu đại vương, đúng như thế.

– Tốt lắm, trẫm sẽ cho khanh vào đội cận vệ của trẫm.

Từ đó, Vô Song ở lại hầu cận vị vua này. Nhưng những người bắn cung cũ lấy làm khó chịu với mức lương được trả cho Vô Song. Họ cằn nhằn rằng mức lương như vậy là quá cao.

Một hôm, nhà vua đi dạo ở trong ngự viên. Ở đó, dưới gốc một cây xoài, cận vệ căng một tấm màn ở trước một chiếc giường bằng đá uy nghi. Nhà vua nằm trên chiếc giường lộng lẫy, tình cờ nhìn lên và thấy một chùm xoài ở trên ngọn cây. Ông nghĩ, “Cây quá cao không thể leo được.” Vì thế, cho triệu những người bắn cung của mình lại, ông hỏi họ là họ có thể dùng mũi tên để ngắt chùm xoài ở trên kia xuống cho ông không. Họ nói:

– Tâu đại vương, việc đó đối với chúng thần không khó. Đại vương từng thấy rõ tài nghệ của chúng thần rồi còn gì. Tuy thế, người mới đến được trả lương cao hơn chúng thần, vậy nên xin đại vương bảo anh ta mang chùm xoài kia xuống.

Thế rồi nhà vua cho gọi Vô Song đến và hỏi Ngài có thể làm được việc đó không. Vô Song đáp:

– Tâu đại vương, Thần làm được việc đó, nếu được phép chọn vị trí.

– Khanh muốn chọn vị trí ở đâu?

– Tâu đại vương, ở chỗ đặt chiếc giường của đại vương.

Nhà vua cho dời sàng toạ và nhường chỗ.

Vô Song không cầm cung trong tay mà thường mang nó trong bộ áo bó thân, vì thế Ngài cần có một bức màn che. Nhà vua ra lệnh mang đến một bức màn và căng nó ra cho Ngài. Vô Song đi vào, cởi chiếc áo trắng mặc ngoài cùng ra và mặc chiếc áo màu đỏ bó sát vào, sau đó buộc thắt lưng và mặc một chiếc áo bó hông màu đỏ. Từ một cái túi, Ngài lấy ra một thanh gươm được tách rời thành từng mảnh, ráp chúng lại với nhau và đeo về bên hông trái. Kế đến, Ngài mang một chiếc áo giáp bằng vàng, đeo ống đựng tên lên lưng, rút ra một cây cung lớn có lẫy chắn, được làm bằng nhiều mảnh. Ngài lắp chúng lại với nhau, gắn dây cung màu đỏ như san hô vào, đội một cái khăn lên đầu, dùng móng tay xoay mũi tên và vén màn bước ra, trông giống như một con rắn chúa lao ra khỏi hang. Vô Song đến nơi bắn cung, đặt tên vào cung, và sau đó hỏi nhà vua thế này:

– Tâu đại vương, thần sẽ mang trái cây này xuống bằng mũi tên bắn lên, hay bằng mũi tên rơi xuống?

Nhà vua nói:

– Này khanh, trẫm thường nhìn thấy một vật được mang xuống bằng mủi tên bắn lên, chứ chưa từng nhìn thấy một vật được mang xuống bằng mũi tên rơi xuống bao giờ. Vậy Khanh hãy làm cho mũi tên rơi xuống chùm xoài.

Vô Song nói:

– Tâu đại vương, mũi tên này sẽ bay lên đến tầng trời Tứ Thiên Vương, và sau đó sẽ tự quay trở lại. Xin đại vương chờ cho đến khi nó quay trở lại.

Nhà vua chấp nhận. Sau đó Vô Song lại nói:

– Tâu đại vương, mũi tên này ở phát bắn lên sẽ đâm đúng ngay vào giữa cuống chùm xoài, và khi rơi xuống, nó sẽ không trạch ra khỏi đường nó bay lên dù chỉ một sợi tóc, mà đánh trúng chính xác vào chỗ đó và mang theo chùm xoài đi xuống.

Rồi ngay lập tức, Vô Song bắn mạnh mũi tên. Khi mũi tên bay lên, nó xuyên qua chính giữa cuống xoài. Người bắn cung khi biết mũi tên đã bay đến cõi trời Tứ Thiên Vương, liền bắn tiếp một mũi tên khác với tốc độ nhanh hơn mũi tên trước. Mũi tên này đánh trúng vào chùm lông của mũi tên trước, khiến cho mũi tên trước quay trở lại. Còn mũi tên sau tự nó đi đến tận cõi trời Tam Thập Tam và những Thiên thần ở đấy đã giữ lấy nó.

Âm thanh rẽ gió của mũi tên rơi xuống giống như tiếng sét. Người ta hỏi:

– Âm thanh gì vậy?

– Đó là tiếng mũi tên đang rơi xuống. Người bắn cung trả lời.

Mọi người sợ mũi tên sẽ rơi xuống và giết chết họ, nhưng Vô Song trấn an.

– Không có gì đáng sợ cả, ta sẽ không để mũi tên rơi xuống đất đâu.

Mũi tên rơi xuống, không trạch ra con đường bay lên dù chỉ một sợi tóc và cắt gọn cuống chùm xoài. Người bắn cung nắm lấy mũi tên ở một tay và chùm xoài ở một tay khác, không cho chúng rơi xuống đất. Những người đứng xem thấy vậy, kêu lên:

– Xưa nay chúng ta chưa bao giờ nhìn thấy một điều kỳ diệu như vậy!

Họ reo hò, vổ tay, gãy ngón tay, vẫy khăn tán thán bậc Đại sĩ! Trong niềm hoan hỷ vui sướng, những triều thần đã tặng cho Vô Song món quà mười triệu đồng. Còn nhà vua cũng ban cho Ngài rất nhiều quà và vinh dự.

Trong khi Bồ-tát được vua này ban nhiều vinh quang và tỏ lòng kính trọng như vậy, thì bảy vua khác, biết không có Vương tử Vô Song ở Ba-la-nại nên đã kéo một đạo quân đến bao vây kinh thành và hỏi vua nước này rằng đánh hay hàng. Nhà vua lo sợ cho tính mạng của mình nên hỏi:

– Không biết người anh của ta bây giờ ở đâu?

– Ông ấy ở trong đội cận vệ của một vị vua lân bang. Cận vệ trả lời.

– Nếu người anh yêu quý của ta không về thì chắc ta sẽ chết. Hãy nhân danh ta đi đến đó, quỳ xuống nơi chân ông ấy, khuyên giải ông ấy và đưa ông ấy về đây!

Những sứ giả của vua đến đấy và thi hành tròn công việc của họ. Vô Song từ biệt nhà vua và quay trở lại Ba-la-nại. Ngài trấn an em mình và bảo ông ta đừng sợ gì cả, sau đó viết lên mũi tên những lời này: “Ta là Vương từ Vô Song vừa mới quay trở về. Ta muốn giết tất cả các ngươi bằng một mũi tên mà ta sẽ bắn vào các ngươi. Những người nào muốn sống thì hãy trốn chạy đi.”

Ngài bắn mũi tên này cho nó rơi xuống ngay giữa cái đĩa bằng vàng mà bảy vị vua này đang cùng ăn. Khi đọc xong dòng chữ trên mũi tên này, họ liền bỏ chạy, chết đi nữa người vì sợ hãi.

Vương Tử đã làm cho bảy vị vua phải tháo chạy như vậy mà không để rơi dù chỉ một chút máu mà một con ruối bé nhỏ có thể uống. Sau đó, ngắm nhìn em mình xong, Vô Song từ bỏ mọi tham dục, xuất gia làm ẩn sĩ, tu tập Thiền định và Thần thông, rồi đến khi mạng chung đã sanh về thế giới Phạm thiên.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

–Vương tử Vô Song đã đánh bại bảy vị vua và giành chiến thắng như vậy, rồi sau đó đã xuất gia.

Với giác ngộ viên mãn, Ngài đọc lên hai bài kệ:

Vô Song Vương Tử, khéo nghề cung

Là bậc gan dạ, xứng anh hùng.

Nhanh như ánh chớp, tên ông bắn

Làm những đại binh bại khốn cùng.

 

Giữa những quân thù, ông đánh tan!

Không làm người nào khổ khóc than

Em mình, ông đã cứu lấy mạng.

Xuất gia tâm trí được bình an.

Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở ấy, A-nan (Ānanda) là người em, còn ta chính là người anh.

Chuyện số 182: CHUYỆN CON VOI TẠI CHIẾN TRƯÒNG (Tiền thân Samgāmāvacra)

Hỡi Voi, bậc anh hùng…

Trong khi trú tại Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Tôn giả Nan-đà (Nanda).

Trong lần đầu tiên quay trở về thành Ca-tỳ-la (Kapila), đức Thế Tôn đã thâu nhận thái tử Nan-đà, người em trai của Ngài vào Tăng đoàn, rồi sau đó Ngài quay lại Xá-vệ (Sāvatthi) và sống ở đấy. Bấy giờ, Tôn giả Nan-đà nhớ lại cảnh tượng khi thầy rời gia đình, mang bát, và gia nhập Tăng đoàn của đức Thế Tôn. Người vợ của Tôn giả là nàng Janapadakayalyāni, một người đẹp nghiêng nước nghiêng thành từ cửa sổ nhìn ra, với mái tóc đang chải dỡ đã nói:

– Thái tử Nan-đà, tại sao chàng lại ra đi cùng với đức Thế Tôn! Thái tử, mong chàng sớm trở về cùng thiếp!

Nhớ lại điều này, Thầy trở nên chán nãn ngã lòng, càng ngày Thầy càng vàng vọt xanh xao, gân tay nổi lên khắp tay.

Khi đức Thế Tôn biết được việc này, Ngài nghĩ, “Ta phải kiến lập cho Nan-đà chứng đắc thánh quả A-la-hán mới được!” Thế rồi, Ngài đi đến phòng Nan-đà và ngồi xuống nơi dành sẵn cho mình. Ngài hỏi:

– Này Nan-đà, thế nào, thầy có an lạc trong giáo pháp này không?

Tôn giả Nan-đà trả lời:

– Bạch đức Thế Tôn, con thương nhớ người vợ của con nên con không được an lạc.

– Nan-đà, thầy đã hành trình đến Tuyết sơn lần nào chưa?

– Thưa chưa, bạch Thế Tôn, con chưa đến đó.

– Vậy thì, chúng ta hãy đi.

– Nhưng bạch Thế Tôn, con không có thần thông thì làm sao con có thế đến đó được?

– Nan-đà, ta sẽ đưa thầy đi.

Nói vậy rồi, đức Thế Tôn nắm lấy tay thầy và như vậy bay qua không trung.

Trên đường đi, hai người đi qua một cánh đồng bị thiêu cháy. Nơi đó, trên một gốc cây cháy đen, một con khỉ cái đang ngồi, với cái mũi sứt và cái đuôi cụt, lông lá cháy sém, ẩn nấp sau đống than, không còn gì ngoài bộ da bết đầy máu.

– Nan-đà, thầy có thấy con khỉ đó không? Đức Thế Tôn hỏi.

– Dạ thấy, bạch Thế Tôn.

– Hãy nhìn kỹ nó, Ngài nói.

Rồi Ngài chỉ cho Nan-đà thấy, trãi dài sáu mươi do tuần, ở bình nguyên Hùng Hoàng (Manosilā) là bảy cái hồ lớn, hồ Anottara và những hồ khác; năm con sông lớn; toàn bộ rặng Tuyết sơn với những ngọn núi tuyệt diệu có tên là Kim sơn, Ngân sơn, Bảo ngọc sơn, và hàng trăm cảnh trí tuyệt đẹp khác. Kế đến Ngài hỏi:

– Nan-đà, thầy có khi nào nhìn thấy nơi ở của cõi trời Tam Thập Tam Thiên chưa?

– Thưa chưa, bạch Thế Tôn, con chưa bao giờ nhìn thấy. Thầy trả lời.

– Hãy đi Nan-đà, ta sẽ chỉ cho thầy nơi ở của cõi trời Tam Thập Tam. Ngài nói.

Thế Tôn đưa Nan-đà đến đó, và cho thầy ngồi lên trên Hoàng Sắc Thạch Sàng. Đế Thích (Sakka), vua của chư thiên trong hai cõi trời, cùng với đạo quân chư thiên của mình đi đến, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thị nữ của Ngài có đến hai triệu rưỡi người, và năm trăm thiên nữ có bàn chân chim bồ câu đi đến đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn cho Nan-đà nhìn thấy năm trăm thiên nữ này. Thầy nhìn không rời mắt và khởi lòng khát khao mong có được họ. Thế Tôn nói:

– Nan-đà, thầy có nhìn thấy những thiên nữ chân câu này không?

– Dạ thấy, bạch Thế Tôn.

– Vậy thì ai đẹp hơn – những thiên nữ hay vợ của thầy?

– Ôi, bạch Thế Tôn! Như con khỉ cụt đuôi khốn khổ kia đem so sánh với Janapadakalyānī, cô ấy đem so sánh với những thiên nữ này cũng như vậy!

– Thế thì Nan-đà, thầy muốn gì?

– Bạch Thế Tôn, làm thế nào có thể có được những thiên nữ này?

– Nan-đà ạ, bằng cách sống đời xuất gia, người ta có thể có được những thiên nữ này. Đức Thế Tôn nói.

– Nếu Thế Tôn cam kết rằng sống đời sống xuất gia sẽ có được những thiên nữ này thì con sẽ sống một đời sống xuất gia.

– Đồng ý, Nan-đà, ta cam kết với thầy.

– Vậy thì bạch Thế Tôn, chúng ta đừng kéo dài việc này nữa. Chúng ta hãy rời khỏi đây, và con sẽ hành trì pháp Sa môn. Thầy nói.

Thế Tôn đưa thầy về lại Kỳ Viên. Tôn giả bắt đầu thực hành pháp sa môn.

Thế Tôn thuật lại chuyện này cho Xá-lợi-phất, vị Tướng Quân Chánh Pháp, về cách thức mà người em của Ngài ở giữa chư thiên ở cõi trời Tam Thập Tam, vì yêu thích các thiên nữ đã buộc Ngài cam kết như thế nào. Trong cùng cách như vậy, Ngài đã kể cho Tôn giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại-ca-diếp, Tôn giả A-na-luật, Tôn giả A-nan – Bậc Pháp Tạng, cả thảy tám mươi vị đại đệ tử. Rồi sau đó chuyền tai nhau, họ kể chuyện đó cho những Tỳ-kheo khác. Bậc Tướng Quân Chánh Pháp – Tôn giả Xá-lợi-phất đã hỏi Tôn giả Nan-đà:

– Này hiền hữu, tôi nghe rằng hiền hữu đã buộc Thế Tôn cam kết là hiền hữu sẽ hành pháp sa môn với điều kiện sẽ có được các thiên nữ ở cõi trời Tam Thập Tam, điều ấy có đúng chăng? Vậy thì, đời sống phạm hạnh của hiền hữu không bị trói buộc bởi nữ giới và tham dục chăng? Nếu hiền hữu sống phạm hạnh vì mục đích nữ giới, thì có gì khác nhau giữa hiền hữu và người nhân công làm mướn lầy lương?

Lời nói này đã dập tắt hết ngọn lửa tham dục trong thầy và làm cho thầy cảm thầy hổ thẹn với lương tâm. Cùng cách như vậy, tám mươi vị đại đệ tử và tất cả những Tỳ-kheo khác đã làm cho Tôn giả cảm thấy hổ thẹn. “Ta đã làm điều sai lầm,” thầy nghĩ. Quá tàm quý, thầy đã tinh tấn nỗ lực và bắt đầu tu tập quán niệm tam muội. Không lâu sau đó, thầy đắc được quả vị A-la-hán. Thế rồi, Thầy đi đến đức Thế Tôn và nói,

– Bạch Thế Tôn, nay con xin giải bỏ lời cam kết của Thế Tôn.

– Nan-đà, nếu thầy đạt được thánh quả thì bằng cách đó ta được giải bỏ lời cam kết của mình. Thế Tôn nói.

Khi chư Tỳ-kheo nghe được sự việc này, họ bắt đầu thảo luận trong Chánh pháp đường:

– Thưa các Hiền hữu, làm thế nào mà Tôn giả Nan-đà dễ bảo kia lại được như thế! Tại làm sao chỉ một lời khuyên đã đánh thức được lòng hổ thẹn của thầy ấy, ngay lập tức thầy ấy bắt đầu hành pháp sa môn và bây giờ là một vị A-la-hán!

Lúc ấy, đức Thế Tôn đi vào và hỏi các Tỳ-kheo đang thảo luận về điều gì. Họ trình bày với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, vào đời trước Nan-đà cũng từng là người biết vâng lời như vậy.

Rồi Ngài kể cho các Tỳ-kheo một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì vương quốc Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sinh làm con trai của một người huấn luyện voi. Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài được dạy dỗ một cách chu đáo về tất cả những điều liên quan đến việc huấn luyện voi. Ngài ở trong đội cận vệ của một vị vua, người có sự thù địch với vua Ba-la-nại. Ngài đã huấn luyện cho quốc tượng của vua này đạt đến sự hoàn thiện.

Nhà vua quyết định đánh chiếm Ba-la-nại. Cưỡi lên quốc tượng của mình, ông chỉ huy một đạo quân hùng mạnh đánh Ba-la-nại và bao vây nước này. Sau đó, ông gởi một bức thư đến vị vua của kinh thành này hỏi rằng đánh hay hàng. Vua Phạm Dự chọn giải pháp đánh. Thành lũy và cổng thành, tháp canh và pháo đài được ông bố trí với một đạo quân thiện chiến, và chiến đấu chống kẻ thù.

Vị vua thù địch trang bị quốc tượng của mình, tự mặc lấy áo giáp, cầm lấy một cây gậy nhọn trong tay, cưỡi voi tiến đến trước mặt kinh thành và nói:

– Giờ đây ta sẽ xông vào kinh thành này, giết chết kẻ thù của ta, và đoạt lấy vương quốc của y về tay mình!

Nhưng những người chống giữ kinh thành khi nhìn thấy vậy, liền ném bùn sôi, bắn đá, và phóng tất cả các loại tên mác. Con voi ấy sợ chết nên không dám đến gần. Bởi vậy, người huận luyện voi đi đến và nói lớn:

– Này Voi, một bậc anh hùng như ngươi, kẻ đã từng quen thuộc chiến trận! Ở một nơi như thế này mà quay lưng thì thật là nhục nhã!

Và để khuyến khích con voi của mình, Bồ-tát đọc lên hai bài kệ này:

Hỡi voi bậc anh hùng

Đã từng quen chiến trận,

Giờ đứng trước cửa thành

Sao quay lưng an phận?

 

Nhanh lên! Phá song sắt,

Trụ cột kia, đập tan!

Phá vỡ những cánh cổng,

Vào thành, thắng vẻ vang!

Voi lắng nghe, chỉ một lời khuyên là đủ làm thay đổi nó. Rồi voi quấn vòi của mình lấy những cột trụ, nhổ chúng lên như nhổ các cây nấm, nó đập vỡ cổng thành, phá nát những thanh chắn, đi vào kinh thành và chiếm lấy vương quốc cho vua của mình.

* * *

Khi kết thúc pháp ngữ này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, Nan-đà là con voi biết nghe lời, A-nan là nhà vua, còn ta chính là người huấn luyện voi.

Chuyện số 183: CHUYỆN ĐỒ ĂN THỪA (Tiền thân Valodaka)

Thức uống tồi, tinh chất đã lọc…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về năm trăm người sinh sống bằng việc ăn thịt dư thừa.

Tại thành Xá-vệ (Sāvatthi), có năm trăm người đã giao phó việc đời lại cho con cái của họ, cùng sống với nhau và nghe đức Thế Tôn thuyết pháp. Trong số này, có một số người đã chứng được quả Dự lưu, một số chứng được quả Nhất lai, và một số chứng được quả Bất hoàn, mà không có ai trong họ là tục nhân cả. Dân chúng mỗi khi thỉnh Phật thọ trai thường thỉnh luôn những người này. Những người này có năm trăm người hầu phục dịch: đem bàn chải, nước súc miệng và những vòng hoa cho họ. Và những người phục dịch này thường ăn thịt thừa của chủ. Sau bữa ăn, chớp mắt một lát, những người hầu này thường chạy xuống sông A-trí-la-phiệt-để (Aciravatī). Ở trên bờ sông, bọn họ la hét và vật nhau giống y như những nhà Malla. Trong khi năm trăm vị cư sĩ đều yên lặng, rất ít lời và sống độc cư.

Tình cờ nghe thấy những người hầu này la hét, đức Thế Tôn hỏi:

– Này A-nan, đó là tiếng ồn gì vậy?

Tôn giả A-nan thưa:

– Bạch Thế Tôn, đó là tiếng những người hầu ăn thịt thừa.

Đức Thế Tôn nói:

– Này A-nan, đây không phải là lần đầu tiên những người hầu này ăn thịt thừa và gây ồn ào sau khi ăn thôi đâu, mà đời trước họ cũng đã từng làm như vậy. Còn những cư sĩ này, thuở ấy cũng đã giữ thanh tịnh như bây giờ.

Nói vậy rồi, theo lời thỉnh cầu của A-nan, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai một vị đại quan, và sau đó trở thành người cố vấn cho nhà vua trong mọi vấn đề về tâm linh cũng như thế tục. Bấy giờ, người ta báo tin cho nhà vua rằng có một cuộc nổi loạn xảy ra ở vùng biên giới. Vua ra lệnh cho năm trăm ngựa chiến chuẩn bị sẵn, cùng với một đạo quân đầy đủ bốn binh chủng (voi, ngựa, chiến xa, bộ binh). Ông đã khởi binh với đạo quận như vậy và dẹp yên được cuộc nổi loạn. Sau chiến sự, ông quay trở lại Ba-la-nại.

Khi về đến nhà, ông ra lệnh:

– Những con ngựa nay đã mệt mõi, hãy cho chúng dùng thức ăn có nước và uống nước nho.

Sau khi những con ngựa uống xong thứ thức uống ngon lành này, chúng trở về chuồng nghỉ và đứng yên lặng trong từng ngăn chuồng của mình.

Nhưng có một số thức ăn dư thừa, mà tất cả phần tinh chất hầu như được vắt hết. Những người giữ ngựa hỏi nhà vua nên làm gì với thứ thức ăn dư thừa này. Nhà vua ra lệnh:

– Trộn nó với nước, dùng khăn lọc nó, và cho đàn lừa chở thức ăn cho ngựa uống.

Đàn lừa uống sạch thứ thức uông tồi kém này. Và thứ thức uống này đã làm cho chúng phát điên. Chúng chạy quanh sân cung điện và lớn tiếng kêu be be.

Từ cửa sổ, nhà vua nhìn thấy Bồ-tát và nói lớn với Ngài:

– Khanh hãy nhìn kìa! Tại sao đàn lừa hoá điên, kêu be be và nhảy cỡn lên khi uống thứ nước tồi kém đó? Còn những con ngựa thuần chủng uống thứ nước tốt lại không gây ồn náo; giữ yên lặng và không nhảy nhót. Điều này có nghĩa gì?

Và rồi, ông đọc lên bài kệ đầu tiên:

Thức uống tồi, tinh chất đã lọc,

Lừa uống vào nhảy nhót cuồng điên

Những con ngựa, uống thức uống tốt

Không chạy nhảy mà đứng lặng yên.

Nghe vậy, Bồ-tát giải thích vấn đề bằng bài kệ thứ hai:

Kẻ tiện dân dù chỉ nếm thử

Là nô đùa, chốc lát say ngất

Người hoà nhã giữ tâm điềm tĩnh

Khi uống cạn, thứ nước tốt nhất.

Khi nhà vua nghe câu trả lời của Bồ-tát, ông đã đuổi đàn lừa ra khỏi sân. Sau đó, vâng theo lời khuyên của Bồ-tát, ông đã bố thí và hành thiện nghiệp, rồi đến khi mạng chung đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Sau khi đức kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân như sau:

– Vào thuở đó, những người hầu này là năm trăm con lừa, những người cư sĩ là năm trăm con ngựa, A-nan là nhà vua, còn ta chính là vị đại thần hiền trí.

Chuyện số 184: CHUYỆN NGƯỜI HUẤN LUYỆN NGỰA SƠN NHA (Tiền thân Giridanta)

Cám ơn người giữ ngựa…

Trong khi trú tại tịnh xá Trúc Lâm (Veuvana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về sự kiện một thầy Tỳ-kheo kết bạn xấu. Những tình huống đã được tường thuật trong Tiền thân Mahilāmukha, số 26. Cũng như trước, đức Thế Tôn nói:

– Đời trước, Tỳ-kheo này cũng đã từng kết bạn xấu giống như những gì bây giờ thầy ấy làm.

Nói rồi, Ngài kể một câu chuyện.

* * *

Thuở xưa, khi vua Thiểm-ma (Sāma) trị vì vương quốc Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con một gia đình đại quan, và khi đến tuổi trưởng thành đã trở thành người cố vấn cho nhà vua trong những vấn đề tâm linh cũng như thế sự. Bấy giờ, nhà vua có một con quốc mã được đặt tên là Bạch Thiện (Paṇḍava), và người huấn luyện nó tên là Sơn Nha (Giridanta), một người bị què chân. Con ngựa thường nhìn ông ta khi ông ta nắm lấy dây cương bước đi khậm khiễng phía trước. Nó biết ông ta là người huấn luyện của nó nên bắt chước ông ta và cũng đi khập khiễng.

Người ta tâu lại với nhà vua rằng con ngựa đã bị què. Nhà vua cho mời những người phẩu thuật đến. Họ khám con ngựa, nhận thấy nó hoàn toàn lành lặn nên báo cáo lại sự việc với nhà vua. Thế rồi nhà vua cho gọi Bồ-tát đến và nói:

– Này khanh, khanh hãy đi tìm hiểu việc đó.

Bồ-tát đến và nhận ngay ra rằng, con ngựa bị què bởi vì nó đi khắp nơi cùng với người huấn luyện què. Vì thế, Ngài tâu lại với nhà vua sự kiến đó:

– Đấy là do thân cận bạn xấu.

Nói rồi, Bồ-tát đọc lên bài kệ đầu tiên:

Bạch Thiện gặp tai hại

Vì theo người huấn luyện.

Nó không theo lối cũ

Mà noi người huấn luyện.

Nghe vậy, nhà vua hỏi:

– Này khanh, vậy bây giờ ta phải làm gì?

– Tâu đại vương, hãy tìm một người giữ ngựa lành lặn để cho giữ ngựa thì con ngựa sẽ lành lặn trở lại như trước đây.

Bồ-tát trả lời rồi đọc lên bài kệ thứ hai:

Tìm người giữ ngựa khỏe

Ngài giao phó cho y,

Kiềm giữ tập luyện ngựa

Ngựa sớm sửa bước đi.

Cảnh khôn đốn của ngựa

Sẽ được làm thẳng ngay

Vì nó sẽ bắt chước

Người bạn giữ ngựa này.

Nhà vua làm theo như vậy, và con ngựa trở lại khoẻ mạnh như trước. Nhà vua thấy Bồ-tát biết cả tính cách của loài thú, nên lấy làm hài lòng và rất mực kính trọng.

* * *

Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở ấy, Bế-bà-đạt-đa (Devadatta) là Sơn Nha (Giridanta), Tỳ-kheo kết bạn xấu là con ngựa, còn ta chính là vị cố vấn hiền trí.

Chuyện số 185: CHUYỆN BẤT THIỆN (Tiền Thân Anabhirati)

Nước đục không hiện rõ…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thanh niên Bà-la-môn.

Tại thành Xá-vệ (Sāvatthi), có một thanh niên Bà-la-môn tinh thông ba bộ Vệ-đà, và thường dạy những chân ngôn cho số những thanh niên Bà-la-môn và Sát đế lợi (Kshatriya). Đúng thời, chàng kết hôn và ổn định cuộc sống. Từ khi kết hôn, tâm trí của chàng trở nên bận rộn với những chuyện tài sản, đồ trang sức, kẻ hầu nam nữ, đất đai, của cải, trâu bò, con cái. Bị tham, sân, si chi phối, tâm trí trở nên mờ mịt, nên chàng quên hết cách thức đọc tụng những chân ngôn theo trình tự, và đôi khi không còn nhớ rõ ràng các chân ngôn. Một ngày nọ, chàng đem một số hoa và dầu thơm đi đến Kỳ Viên để cúng dường đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Thế Tôn xong, chàng ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn ân cần trò chuyện với chàng.

– Thế nào cư sĩ, anh là một vị thầy dạy các chân ngôn. Anh có còn thuộc lòng các chân ngôn ấy không?

– Ôi, bạch Thế Tôn, con từng thuộc lòng các chân ngôn, nhưng bởi vì con lập gia đình nên giờ đây tâm trí của con trở nên mờ tối và con không còn thấu suốt chúng nữa.

Đức Thế Tôn nói:

– Này cư sĩ, trước đây chính điều như vậy đã xảy ra. Lúc đầu, tâm trí cư sĩ sáng rõ nên cư sĩ thấu hiểu các chân ngôn một cách hoàn hảo. Nhưng về sau, khi tâm trí bị che khuất bởi đam mê và dục lạc, cư sĩ không còn thấu hiểu chúng một cách rõ ràng nữa.

Rồi theo lời thỉnh cầu của chàng trai, đức Thế Tôn kể câu chuyện sau.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình thuộc dòng tộc Bà-la-môn cao quý. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát đến Xoa-thi-la (Takkasilā) theo học các chân ngôn với một bậc thầy lừng danh. Sau đó, Bồ-tát quay trở lại Ba-la-nại và dạy các chân ngôn đó cho số những thanh niên Bà-la-môn và Sát-đế-lợi.

Trong số những thanh niên này, có một chàng trai Ba-la-môn đã học thuộc lòng ba bộ Vệ-đà. Chàng trai trở thành người phó sư, và có thể đọc lên toàn bộ những bài chân ngôn mà không vấp dù chỉ một câu. Một thời gian sau, chàng trai này kết hôn và ổn định gia thất. Rồi những lo toan của đời sống thế tục đã làm mờ tối đi tâm trí chàng, khiến chàng không thể đọc thuộc các chân ngôn được nữa.

Một ngày nọ, thầy của chàng ghé thăm chàng. Ngài hỏi:

– Thế nào, chàng trai, con có còn nắm lòng tất cả những chân ngôn không?

Chàng trai trả lời:

– Thưa thầy, từ khi trở thành người chủ của gia đình, tâm trí con trở nên mê mờ, nên con không thể đọc thuộc các chân ngôn được nữa.

– Này con, một khi tâm bị mê mờ, thì dù các bài kinh được học thuộc lòng thế nào chăng nữa chúng cũng không thể lưu lại một cách rõ ràng được. Nhưng khi tâm vắng lặng sáng suốt thì có thể nhớ lại một cách rõ ràng.

Và ngay sau đó, Bồ-tát đọc lên hai bài kệ sau:

Nước đục không hiện rõ

Cá, sò, cát dưới đáy.

Tâm trí bị vẩn đục

Lợi ích không rõ thấy.

 

Nước trong lặng hiện rõ

Cá, sò nằm dưới đấy,

Tâm trí không vẩn đục

Lợi ích hiện rõ thấy.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Kết thúc các Thánh Đế, thanh niên Ba-la-môn đắc được quả Dự lưu. Sau đó, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở ấy, chàng trai này là thanh niên Bà-la-môn, còn ta là người thầy.

Chuyện số 186: CHUYỆN VỊ VUA MANG SỬA ĐÔ (Tiền thân Dadhi-Vāhana)

Trước đây vị xoài ngọt…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc kết bạn ác. Những tình huống của câu chuyện cũng giống như trên. Ở đây, đức Thế Tôn lại nói:

– Này các Tỳ-kheo, kết bạn ác là xấu xa và có hại. Tại sao ta phải nói đến những tác động xấu của bạn ác đối với con người? Vào thuở trước, ngay cả một một cây xoài, trái ngọt của nó là một món ăn xứng đáng dành cho chư thiên, đã biến thành chua đắng bởi sự ảnh hưởng của một cây nhâm-bà (nimb) đắng và độc hại.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), có bốn anh em Bà-la-môn ở nước Ca-thi (Kāsi) xuất gia làm ẩn sĩ. Ở vùng Tuyết Sơn, họ làm làm bốn cái thất liền nhau và sống ở đấy.

Người anh cả qua đời và sanh làm vua trời Đế Thích (Sakka). Ông biết nhân duyên của mình đối với ba người em, nên cứ bảy tám ngày ông viếng thăm những người này một lần để giúp đở họ.

Một ngày nọ, ông viếng thăm vị ẩn sĩ lớn nhất. Sau khi chào hỏi như thường lệ, ông ngồi xuống một bên và hỏi:

– Thế nào, thưa Tôn giả, Tôn giả có cần ta giúp gì không?

– Tôi cần lửa. Người đạo sĩ đang khổ đau bởi bệnh vàng da trả lời.

Vua trời Đế Thích đưa cho ông một cái rìu dao cạo. (Rìu dao cạo, nó được gọi như vậy bởi vị nó có thể được dùng như một cái dao cạo hay một cái rìu tuỳ theo bạn lắp đặt điều chỉnh nó ở tay cầm.)

– Sao, chỉ với cái rìu này, vậy ai mang củi lại cho tôi? Vị đạo sĩ hỏi.

– Thưa Tôn giả, nếu ngài muốn có lửa, ngài chỉ việc đập tay vào chiếc rìu này và nói: “Hãy mang củi lại và đốt lửa lên!” Cái rìu sẽ mang củi đến và đốt lửa lên cho ngài.

Sau khi trao cho vị ẩn sĩ chiếc rìu dao cạo này xong, Đế Thích tiếp đến viếng thăm người em thứ hai, và cũng hỏi vị này câu hỏi như vậy:

– Thưa Tôn giả, tôn giả có cần ta giúp gì không?

Bấy giờ, có một con đường voi đi gần am của vị ẩn sĩ này và những con thú thường quấy nhiễu ông. Vì thế, ông kể với vua trời Đế Thích rằng ông bị những con voi quấy nhiễu và muốn đuổi chúng đi. Vua trời Đế Thích trao cho ông một cái trống và giải thích:

– Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả đánh vào mặt này của trống, kẻ thù của Tôn giả sẽ bỏ chạy, còn nếu đánh vào mặt kia, chúng sẽ trở thành những người bạn trung thành của Tôn giả và sẽ bao quanh Tôn giả với một đạo quân gồm bốn binh chủng.

Nói rồi, Đế Thích trao cái trống cho cho vị này.

Cuối cùng, vua trời Đế Thích viếng thăm người em út, và hỏi vị này có cần giúp đở gì không. Vị này cũng bị bệnh vàng da nên nói:

– Xin hoan hỷ cho tôi một ít sữa đông.

Vua trời Đế Thích trao cho ông một bình sữa và nói thế này:

– Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả muốn gì thì hãy lật ngược cái bình này lại, một con sông lớn sẽ tuôn ra và làm tràn ngập toàn bộ nơi này, thậm chí có thể dành lấy một vương quốc cho Tôn giả.

Nói vậy xong, Đế Thích từ biệt.

Người anh cả sau khi có được cái búa này, thường dùng nó để lấy lửa. Người thứ hai thường đánh vào mặt trống để xua đuổi đàn con voi. Còn người em út có được sữa đông để ăn.

Lúc bấy giờ, có một con heo rừng sống trong một ngôi làng hư nát, tình cờ tìm được một viên ngọc có thần lực. Khi nó dùng miệng nhặt viên ngọc, nhờ thần lực của viên ngọc, nó bay lên không trung. Từ xa, nó nhìn thấy một hòn đảo nhỏ giữa đại dương và quyết định xuống đấy sống. Vì thế nó đáp xuống đó, chọn một địa điểm vừa ý bên dưới một cây xoài và cư trú ở đấy.

Một hôm, con heo đặt viên ngọc ở trước mặt và nằm ngủ say dưới gốc cây. Bấy giờ, có một người ở nước Ca-thi (Kāsi) bị cha mẹ đuổi ra khỏi nhà vì vô tích sự. Anh ta đi đến một bến cảng, sau đó leo lên một chiếc tàu và làm người lao dịch cho những thủy thủ. Đến giữa biển thì tàu bị đắm, anh ta trôi lênh đênh trên một tấm ván và đến hòn đảo này. Khi đang lang thang tìm kiếm trái cây, anh ta nhìn thấy con heo đang ngủ say. Anh ta rón rén đến gần con heo và chụp lấy viên ngọc. Nhờ thần lực của viên ngọc, anh ta bay lên không trung! Anh ta đáp xuống trên cây xoài và suy nghĩ: “Ta nghĩ thần lực của viên ngọc này đã dạy cho con heo kia trở thành kẻ đi được trên không, nhờ đó mà nó đến được đây. Tốt, trước tiên ta sẽ giết con heo này để làm một bửa ăn, rồi sau đó sẽ ra đi.” Vì thế, anh ta bẻ một nhành cây và thả nó lên đầu con heo. Con heo thức giấc, không nhìn thấy viên ngọc nên run sợ chạy cuống lên. Anh chàng ở trên cây cười lớn. Con heo ngước lên, nhìn thấy anh ta, liền đâm đầu vào gốc cây và chết ngay tại chỗ.

Anh chàng đi xuống, đốt lửa lên và nướng con heo làm bửa ăn. Sau đó, anh ta bay lên không trung và bắt đầu cuộc hành trình của mình.

Khi bay ngang qua rặng Tuyết sơn, anh ta nhìn thấy nơi ở của những ẩn sĩ. Vì thế anh ta đáp xuống, ở lại hai ba ngày trong am của vị ẩn sĩ lớn tuổi nhất và được vị này tiếp đãi ân cần. Rồi anh ta phát hiện ra công dụng của cái rìu, và rắp tâm lấy cắp nó. Vì thế, anh ta để cho vị ẩn sĩ thấy công dụng của viên ngọc và đề nghị đổi nó để lấy cái rìu. Vị ẩn sĩ mong được bay qua không trung nên chấp nhận sự đổi chác này. Anh này nhận lấy cái rìu và cáo biệt. Nhưng đi được một đoạn, anh ta đập vào cái rìu và nói:

– Hởi rìu! Hãy đến đập vỡ đầu vị ẩn sĩ đó và mang viên ngọc về lại cho ta!

Chiếc rìu bay đi, chặt đứt đầu vị ẩn sĩ và mang viên ngọc trở lại.

Rồi anh này cất giấu cái rìu đi và đi đến vị ẩn sĩ thứ hai. Anh ta ở với vị này một vài ngày và chẳng bao lâu đã khám phá ra công năng cái trống của vị ẩn sĩ. Như trước đây, anh ta bảo cái rìu đến chặt đầu vị ẩn sĩ. Sau đó, anh ta tiếp tục đi đến vị ẩn sĩ út. Khi khám phá ra công năng của chiếc bình đựng sữa, anh ta đổi viên ngọc của mình để lấy nó, và như trước đây anh ta bảo cái rìu đến chặt đầu vị này. Như vậy, giờ đây anh ta là chủ nhân của viên ngọc, cái rìu, cái trống và bình đựng sữa tất cả là bốn.

Rồi nhảy lên và bay qua không trung, dừng lại gần Ba-la-nại, anh ta viết một lá thư gửi cho nhà vua qua tay người sứ giả, hỏi rằng nhà vua muốn đánh nhau với anh ta hay muốn hàng. Nhận được thư này, nhà vua xông ra để “túm lấy tên vô lại.” Nhưng anh ta liền đập vào một mặt trống, và ngay lập tức một đạo quân gồm bốn binh chủng vây lấy kinh thành. Khi nhìn thấy nhà vua triển khai thế trận, anh ta lật úp chiếc bát đựng sữa, một dòng sông lớn trào ra và nhấn chìm đại đạo quân trong dòng sông sữa. Kế đến, anh ta vổ vào cái rìu và hét lên:

– Hãy đến mang đầu nhà vua lại cho ta!

Cái rìu bay đi và trở về thả cái đầu dưới chân anh ta. Không còn một người nào dám đưa tay chống lại anh ta.

Với một đội quân hùng mạnh bao quân như vậy, anh ta đi vào kinh thành, làm lễ quán đảnh và trở thành vị vua với vương vị Dadhi-vāhana, hay Ngưng Nhũ Vận Bàn (vị vua mang sữa đông), rồi cai trị đất nước một cách công chính.

Một hôm, khi đang tiêu khiển bằng việc ném lưới trên sông, vua bắt gặp một trái xoài do thiên thần ở hồ Kaṇṇamuṇḍa trên rặng Tuyết sơn do vui ý thả trôi. Khi lưới được kéo lên, các quan nhìn thấy trái xoài bèn đưa nó cho nhà vua xem. Đấy là một trái cây lớn, lớn như một cái chậu, tròn trịa và có sắc vàng. Nhà vua hỏi đó là trái cây gì, những người thợ rừng trả lời đó là trái xoài. Nhà vua ăn và lấy hạt trồng ở trong ngự viên, rồi dùng sữa tưới nó.

Cây nhú mầm và sau ba năm thì trổ quả. Cây xoài này được kính trọng rất mực, được tưới bằng sữa, được treo những vòng hoa thơm năm chùm, được trang trí bằng những tràng hoa giăng quanh. Cây được đốt đèn bằng dầu thơm, và một màn vải bao xung quanh. Trái cây ngọt và có màu sắc vàng ròng. Vua Dadhi-vāhana trước khi gửi những trái xoài này đến tặng những vị vua khác, thường lấy gai nhọn đâm vào nơi mộng hạt xoài vì sợ họ sẽ trồng thứ cây này. Khi các vua ăn trái cây xong, họ thường đem hạt gieo, nhưng hạt không mọc được. Họ hỏi lý do và nhận biết được vấn đề.

Một vị vua đã hỏi người làm vườn, rằng anh ta có thể làm hỏng đi vị thơm ngon của trái cây này và khiến cho nó trở thành chua đắng được không. Người làm vườn nói là anh ta có thể làm được. Vì thế, vua cho anh ta một ngàn đồng và bảo anh ta đi thi hành nhiệm vụ.

Ngay khi vừa đến Ba-na-nại, anh chàng gửi lời tâu với vua rằng có một người làm vườn đến. Nhà vua cho gọi anh ta vào diện kiến. Người làm vườn đi vào và chào nhà vua. Nhà vua hỏi:

– Có phải ngươi là một người làm vườn không?

– Tâu hoàng thượng, đúng thế ạ. Anh ta nói, và bắt đầu tự ca ngợi mình.

– Rất tốt, ngươi có thế đến cộng sự với người giữ vườn của ta. Nhà vua nói.

Từ đó, hai người này thường chăm sóc ngự viên.

Bằng cách thúc ép cho hoa trái ra trái mùa, người mới đến đã làm cho ngự viên trông đẹp hơn. Điều đó làm hài lòng nhà vua, và vua đã sa thải người giữ vườn trước và giao ngự viên lại cho một mình người mới đến đảm trách. Khi vừa thâu tóm được ngự viên vào tay mình, anh ta đã trồng ngay những cây nhâm-ba (nimb) và nhưng cây leo xung quanh cây xoài. Những cây nhâm-ba nhú mầm và lớn lên, bên trên lẫn bên dưới, rễ với rễ, cành với cành, chúng quấn lấy cây xoài. Do sự kết giao với với thứ cây độc hại và chua đắng này mà trái xoài từ có vị ngọt đã biến thành vị đắng giống như vị đắng của cây nhâm-ba. Khi biết rằng trái cây đã hoá đắng, người làm vườn vội trốn đi.

Vua Ddhi-vāhana đi đến ngự viên và hái một trái xoài ăn. Nước trái cây trong miệng có vị khó chịu giống như trái nhâm-bà. Ông không thể nuốt được nên nhổ nó ra. Lúc bấy giờ, Bồ-tát là vị quan cố vấn cho nhà vua về các việc tâm linh cũng như thế sự. Nhà vua đến gần Bồ-tát và nói với Ngài:

– Thưa bậc hiền trí, cây này luôn được chăm sóc cẩn thận, nhưng không biết sao trái nó lại hoá đắng? Lý do gì vậy?

Sau khi hỏi xong, ông đọc lên bài kệ đầu tiên:

Trước đây vị xoài ngọt

Hương thơm màu sắc vàng,

Giờ hoá thành vị đắng

Có sự cố gì chăng?

Bồ-tát giải thích lý do bằng bài kệ thứ hai:

Dây leo quấn vòng quanh

Cành vương vít với cành

Và rễ cuốn lấy rễ

Giống cây bò leo thân.

Điều này làm hỏng trái

Như thế ngài nên hay

Người tốt sẽ hư hại.

Khi theo bạn ác này.

Vua nghe lời Bồ-tát, cho di dời tất cả những cây nhâm bà, đào rễ chúng lên, đất đai bị nhiễm độc được đem bỏ đi, đất thuần khiết được lấp vào gốc cây. Rồi chăm sóc cây cẩn thận bằng nước thơm ngọt, nước sữa, nước có hương thơm. Sau đó, nhờ hấp thụ tất cả sự ngọt ngào này mà trái cây trở lại ngon ngọt như trước. Nhà vua giao nhiệm vụ coi sóc ngự viên cho người làm vườn cũ. Rồi sau khi mạng chung, ông tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, ta chính là vị quan cố vấn hiền trí.

Chuyện số 187: CHUYỆN BỐN VẺ ĐẸP (Tiền thân Cakumaṭṭa)

Đậu và nói trên cây…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo lớn tuổi. Chuyện kể rằng, một lần nọ, hai vị thượng thủ Tỳ-kheo đang thảo luận giáo pháp với nhau. Khi ấy, một thầy Tỳ-kheo lớn tuổi đi đến và trở thành người thứ ba. Sau khi ngồi xuống, thầy này nói:

– Thưa hai hiền hữu, tôi cũng có một câu hỏi muốn hỏi hai hiền hữu, và nếu hai hiền hữu thấy không trả lời được thì có thể hỏi lại tôi.

Hai vị trưởng lão không bằng lòng nên đứng dậy bỏ đi. Tăng chúng nghe hai vị Trưởng lão giảng pháp, sau khi buổi giảng kết thúc đã đi đến đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn hỏi họ có việc gì mà đến đấy phi thời như vậy, và họ đã thuật lại cho Ngài nghe những gì đã xảy ra. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên chán ghét và rời bỏ thầy này mà không nói một lời nào. Thuở trước, việc như vậy cũng từng xảy ra.

Rồi Thế Tôn bắt đầu kể một câu chuyện quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một vị thần cây sống trong một khu rừng. Có hai con Ngỗng từ núi Tâm Phong (Cittakūa) bay xuống và đậu trên cây này. Chúng bay quanh để kiếm mồi rồi quay lại cây ấy, sau đó bay trở về ngọn núi quê nhà của mình nghỉ ngơi. Thời gian trôi qua, thần cây kết bạn với chúng. Bao lần đến rồi đi, dần dần họ đã trở thành những người bạn tốt của nhau và thường thảo luận giáo pháp với nhau trước khi bay đi.

Một hôm nọ, lúc hai con chim đang đậu trên ngọn cây và nói chuyện với Bồ-tát thì một con Sói đứng lại dưới gốc cây và nói với hai con chim qua lời bài kệ sau:

Đậu và nói trên cây

Sao không xuống dưới này

Ngồi trên đất và nói

Cho vua loài thú đây.

Quá ghê tởm, hai con Ngỗng vỗ cánh bay trở lại Tâm Phong Sơn (Cittakūa). Khi chúng đi rồi, Bồ-tát vì lợi ích của con Sói đã đọc lên bài kệ thứ hai:

Chim đẹp cùng chim đẹp

Thiên cùng thiên chuyện trò

Tứ mỹ, ngươi không có

Thôi quay về hang cho!

* * *

Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, thầy Tỳ-kheo lớn tuổi này là con Sói, Xá-lợi-phất Và Mục-kiền-liên là hai con Ngỗng, còn ta chính là vị Thần cây.

Chuyện số 188: CHUYỆN SƯ TỬ LAI SÓI (Tiền thân Sīhakoṭṭhuka)

Móng vuốt của sư tử…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Câu-ca-lợi (Kokālika). Chuyện kể rằng, một ngày nọ, Câu-ca-lợi khi nghe một số Tỳ-kheo thông tuệ thuyết pháp, đã khởi lòng mong được thuyết pháp. Tất cả phần còn lại đều giống như những tình huống được trình bày trong Tiền Thân số 172. Ở đây, khi nghe sự việc đó, đức Thế Tôn nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất Câu-ca-lợi bộc lộ bản chất của mình qua tiếng nói thôi đâu. Trước đây, chính điều như vậy đã từng xảy ra.

Rồi Thế Tôn kể một câu chuyện .

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con Sư tử sống trong rặng Tuyết sơn, và Sư tử có một chú sư tử con mà mẹ của nó là một con Sói cái. Chú sư tử con này giống cha nó ở ngón chân, vuốt, bờm, màu lông, hình dáng – tất cả mọi thứ, ngoại trừ tiếng của nó là giống như mẹ nó.

Một hôm, sau trận mưa lớn, cả đàn sư tử cùng nhau nhảy nhót và rống lên. Con sư tử con này cũng muốn rống lên, nhưng nó chỉ hú lên được như một con sói. Khi nghe tiếng hú này, cả đàn sư tử lập tức im lặng! Con sư tử anh em cùng cha với nó nghe nó kêu vậy thì hỏi cha:

– Thưa cha, con sư tử kia giống chúng ta ở màu lông và tất cả mọi thứ, ngoại trừ tiếng kêu. Nó là ai vậy?

Hỏi xong nó đọc lên bài kệ thứ nhất:

Mang vuốt của sư tử

Chân của loài sư tử…

Nhưng tiếng kêu kẻ này

Không giống như sư tử!

Bồ-tát nghe hỏi vậy liền trả lời:

– Đó là em của con, con của một con Sói cái. Nó giống con về hình hài, nhưng tiếng kêu lại giống mẹ nó.

Sau đó, Bồ-tát khuyên con sư tử lai sói kia:

– Này con trai, khi con sống nơi đây, con hãy nhớ giữ im lặng. Nếu con kêu nữa chúng sẽ nhận ra con là một con Sói đấy.

Để khuyên nhủ, Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ hai:

Bọn họ sẽ biết con

Nếu con kêu như trước.

Giữ im đừng cố rống

Tiếng con khác sư tử.

Sau lời khuyên này, con thú kia không bao giờ cố rống nữa.

* * *

Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

Vào thuở đó, Câu-ca-lợi là con Sói con, La-hầu-la là sư tử anh, còn vua của loài thú chính là ta vậy.

Chuyện số 189: CHUYỆN TẤM DA SƯ TỬ (Tiền thân Sīhacamma)

Không phải sư tử, không phải hổ…

Giống như câu chuyện vừa rồi, khi trú ở tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Câu-ca-lợi (Kokālika). Lần này Câu-ca-lợi muốn tụng kinh, đức Thế Tôn khi nghe vậy liền kể câu chuyện sau.

 

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trì vì vương quốc Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát sinh vào trong một gia đình nông phu. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát kiếm sống bằng việc cày cấy.

Vào cùng thời gian đó, có một vị Thương nhân thường đi khắp nơi để rao bán hàng hóa mà một con lừa chở hộ ông. Đến bất kỳ nơi đâu, ông thường lấy hàng hoá xuống, sau đó khoác tấm da hổ lên mình lừa và thả nó ở những cánh đồng lúa. Khi những người canh gác nhìn thấy con vật này, họ tưởng nó là một con sư tử nên không dám đến gần.

Một hôm, người thương nhân này dừng lại tại một ngôi làng nọ. Và trong thời gian nấu bửa ăn sáng, ông ta khoác tấm da sư tử lên con lừa và thả nó ở một cánh đồng lúa mạch. Người canh gác nghĩ đó là một con sư tử nên không dám đến gần mà chạy nhanh về nhà báo động. Tất cả dân làng cầm lấy vũ khí chạy nhanh đến cánh đồng, la hét, thổi vỏ ốc và đánh trống. Con lừa sợ hãi đến mất trí nên đã kêu lên! Nghe tiếng kêu, Bồ-tát biết rằng đó là một con lừa nên đọc lên bài kệ thứ nhất:

Không phải sư tử, không phải hổ

Thậm chí không phải một con beo

Nó là con lừa già khốn khổ

Tấm da sư tử, lưng nó đeo!

Khi biết rằng đó chỉ là một con lừa, dân làng dùng gậy đánh nó cho đến khi xương nó gãy nát, sau đó cầm lấy tấm da sư tử bỏ đi. Lúc vị thương nhân đi đến và nhận thấy con lừa của mình gặp tai hoạ, ông ta đọc lên bài kệ thứ hai:

Có thể ăn lâu ở đồng xanh

Với da sư tử che hình dáng.

Nhưng vì kêu lên, nên hại thân!

Người thương nhân đọc xong những lời này thì con lừa chết. Sau đó, ông bỏ nó lại và lên đường.

* * *

Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, Câu-ca-lợi là con lừa, còn ta chính là người nông dân có trí .

Chuyện số 190: CHUYỆN LỢI ÍCH CỦA GIỚI ĐỨC (Tiền thân Sīlānisamsa)

Thấy rõ quả bố thí…

Trong khi trú tại Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một nam cư sĩ tịnh tín. Vị này là một Phật tử có đức tin, thuần thành, là một người mới đến với đạo. Một buổi chiều nọ, trên đường đi đến tinh xá Kỳ Viên, ông đi đến bờ sông A-trí-la-phiệt-để (Aciravatī). Khi ấy, những người chèo thuyền đã đẩy tất cả thuyền của họ lên bờ để bảo dưỡng nên không còn một chiếc thuyền nào ở bến cả. Vị cư sĩ này bước chân xuống nước với lòng hoan hỷ quán tưởng về đức Phật, nên khi bước trên nước chân của ông không chìm xuống nước. Ông ra đến giữa sông, đi như thể đang đi ở trên đất liền vậy. Nhưng khi ông để tâm đến những lớp sống và lòng hoan hỷ của ông giảm đi, thì chân ông bắt đầu chìm xuống nước. Ông lại làm dâng lên lòng hoan hỷ quán tưởng về đức Phật, thế là ông đi trên mặt nước trở lại. Sau đó ông đi đến tinh xá Kỳ Viên, đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đi vào và ân cần trò chuyện với ông. Ngài nói:

– Này thiện nam cư sĩ, ta mong là ông không gặp rủi ro trên đường đi.

– Bạch Thế Tôn, trên đường đi, con đã chuyên tâm quán tưởng về đức Thế Tôn nên khi đi trên mặt nước con đã đi như thể đi trên đất liền vậy!

Đức Thế Tôn nói:

– Này cư sĩ, không phải cư sĩ là người duy nhất giữ được an toàn nhờ nhớ đến những đức hạnh của đức Phật. Đời trước, những cư sĩ thuần thành khi bị chìm tàu giữa biển, đã cứu được mạng mình nhờ nhớ đến các công đức của đức Phật.

Rồi theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ này, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ

 

* * *

Thuở xưa, vào thời đức Phật Ca Diếp (Kassapa), có một vị thánh đệ tử đã chứng được quả Dự Lưu, ông đi trên một chiếc tàu cùng với một người thợ cắt tóc giàu có. Vợ người thợ cắt tóc giao chồng mình nhiệm vụ chăm sóc vị cư sĩ này trong bất cứ tình huống nào.

Một tuần sau, khi chiếc tàu đi đến giữa đại dương thì bị đắm. Hai người này bám vào một tấm ván và trôi dạt vào một hòn đảo. Ở đó, người thợ cắt tóc giết chim, nấu chúng, rồi chia một phần mời vị cư sĩ ăn. Vị cư sĩ nói:

– Thôi được rồi, cám ơn anh, tôi thấy đã đủ.

Rồi vị cư sĩ nghĩ: “Ở nơi này không ai có thể giúp được chúng ta ngoại trừ Tam bảo.” Vì thế, ông nhớ niệm đến công đức của Tam bảo. Khi ông thành tâm nhớ nghĩ như vây, một vị Long vương sanh ra ở hòn đảo này đã hoá thân thành hình một chiếc tàu lớn, đầy ắp bảy loại châu báu. Thần biển làm người lái tàu. Ba cột buồm được làm bằng ngọc bích; mỏ neo bằng vàng; dây thừng bằng bạc và những tấm ván bằng vàng.

Thần biển đứng trên tàu nói lớn:

– Có vị hành khách nào đến Ấn Độ không?

– Thưa có, cho chúng tôi đến đó. Vị cư sĩ trả lời.

– Vậy mời ông lên tàu.

Ông bước lên tàu và muốn gọi người bạn cắt tóc của mình cùng lên. Nhưng người lái tàu nói:

– Ông có thể lên, nhưng người kia thì không được.

– Tại sao ông ta không được?

Hải thần nói:

– Vì ông ta không có công đức. Tôi lái chiếc tàu này để chở ông chứ không phải chở ông ta.

– Thôi được, tôi đã làm việc bố thí, tu tập giới đức và thực hành thiền định – tất cả công đức có được từ các việc làm này, tôi xin hồi hướng hết cho ông ta!

Nghe thế, người thợ cắt tóc nói:

– Thưa ông, tôi xin cám ơn ông.

– Giờ thì tôi có thể đưa các ông lên thuyền.

Hải thần nói và chở cả hai người vượt biển, lái tàu theo hướng đến Ba-la-nại. Ở đó, bằng thần lực của mình, Hải thần tạo ra một kho báu dành cho hai người và nói với họ như thế này:

– Nên kết bạn với người tốt và có trí. Nếu người thợ cắt tóc không kết bạn với người cư sĩ thuần thành này thì ông ta đã chết giữa đại dương sâu thẳm rồi. Sau đó, Thần biển ngâm lên những vần kệ này để ca ngợi tình bạn tốt:

Thấy rõ quả bố thí

Giới đức, mộ đạo thiền

Long vương hoá hình thuyền

Chở người hiền qua biển.

 

Cùng người hiền giao hữu

Cùng người hiền tương thân

Cùng người hiền kết bạn

Thợ cắt tóc an lành.

 

* * *

Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, vị nam cư sĩ thuần thành này chứng được quả Nhất lai. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thuở ấy, vị cư sĩ đã chứng được Niết-bàn, Xá-lợi-phất là Long vương, còn ta chính là Hải thần.

Chương I        Chương II       Chương III       Chương IV        Chương V    

Chương VI     Chương VII     Chương VIII     Chương IX        Chương X

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Hội PG Thảo Đường


  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp   


    Lịch sinh hoạt Phật sự

        

      Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem chi tiết lịch sinh hoạt  

      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh   


       

      Tôn ảnh Phật ngọc

       

       

         Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

      Đọc tiếp   

       

      Các trang web liên kết