CHUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

Tập 2 - Chương II -  Phẩm thân giáo

Chuyện Số 161: CHUYỆN ẨN SĨ NHÂN-ĐÀ-LA-ĐỒNG-TÍNH (Tiền Thân Indasamāgotta)

Người hiền không kết bạn ác nhân…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo bướng bỉnh. Những tình huống của câu chuyện sẽ được trình bày trong Tiền thân Vulture, số 427. Ở đây, đức Thế Tôn đã nói với thầy Tỳ-kheo này:

  – Cũng như bây giờ vậy, vào đời trước, thầy bị một con voi điên giẫm chết bởi vì thầy quá bướng bỉnh và xem thường lời khuyên răn của những bậc hiền trí.

 Và Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Pham Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Banares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình Bà-la-môn. Khi trưởng thành, Ngài xuất gia sống đời ẩn sĩ. Rồi nhân duyên hội đủ, Ngài trở thành người lãnh đạo của một hội chúng năm trăm nhà tu khổ hạnh, sống cùng với nhau trong vùng Tuyết sơn (Himalaya).

Trong số những ẩn sĩ này, có một người rất ương ngạnh và khó dạy tên là Nhân-đà-la-đồng-tính (Indasamānagotta). Vị này có một con voi cưng. Khi biết được điều này, Bồ-tát cho gọi ông đến và hỏi rằng có phải ông thật sự nuôi một con voi nhỏ không? Vị này trả lời:

– Thưa thầy, con có nuôi một con voi mất mẹ.

Bồ-tát nói:

–  Này con, loài voi khi lớn lên, chúng thường giết những người nuôi dưỡng chúng. Vì vậy, tốt hơn con đừng nuôi nó nữa.

  – Nhưng thưa thầy, con không thể sống thiếu nó được! Vị này trả lời.

 – Vậy sao, rồi con sẽ hối tiếc về điều đó.

Dù được khuyên như vậy nhưng vị này vẫn nuôi con vật, mãi cho đến khi nó trở thành một con voi lớn.

Một lần nọ, những vị ẩn sĩ đi vào rừng để đào củ và hái trái cây, rồi ở lại đấy dăm ba ngày. Lúc gió nam bắt đầu thổi, con voi này bổng trở nên điên dại. Voi nghĩ, “Ta sẽ phá nát thảo am, đập tan chậu nước, ném bỏ ghế nằm, xé nát sàng toạ, giết các ẩn sĩ này và sau đó sẽ bỏ đi!” Vì vậy nó chạy nhanh vào rừng, và chờ đợi họ trở về.

Sau khi lấy đầy thức ăn cho con vật cưng của mình, người chủ con thú đi về trước. Khi nhìn  thấy nó, ông nghĩ mọi việc đều tốt cả nên đi đến. Con voi từ bụi cây lao ra, dùng vòi túm lấy ông và ném mạnh ông xuống đất, sau đó dầm lên đầu và giết chết ông. Rồi rống lên một cách man dại, nó lao nhanh vào rừng.

Những vị ẫn sĩ kia đem sự việc này thưa với Bồ-tát. Ngài nói:

  – Chúng ta không có liên quan gì với con người xấu xa đó.

Và rồi, Ngài đọc lên hai bài kệ:

Người hiền không kết bạn ác nhân

Biết rõ bổn phận để thân hành

Người làm điều ác sớm hay muộn

Ngay thời voi dữ giẫm nát thân.

 

Người đồng tâm tư, nên nhận chân

Đức hạnh, trí tuệ, cùng tu hành

Chọn bạn như vậy là chân thật

Bạn tốt, điều lạnh cùng tương thân.

Như vậy, Bồ-tát đã chỉ bảo cho hội chúng ẩn sĩ của mình nên biết nghe lời và không được ương ngạnh. Sau khi tổ chức tang lễ cho Nhân-đà-la-đồng-tính (Indasamānagotta) xong, Ngài tu tập phạm hạnh, đến khi mạng chung đã sanh về thế giới Phạm thiên.

* * *

Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, Tỳ-kheo ương ngạnh này là Nhân-đà-la-đồng-tính (Indasamānagotta), còn ta chính là vị Đạo sư của hội chúng những ẩn sĩ đó.

Chuyện Số 162: CHUYÊN KẾT GIAO THÂN THIẾT (Tiền thân Santhava)

Không gì tệ hơn bạn xấu xa…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc tế lễ lửa thần. Những tình huống của câu chuyện giống như trong Tiền thân Nanguṭṭha, số 144. Các Tỳ-kheo khi nhìn thấy những người thờ lửa này đã bạch với đức Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, những vị tiên nhân búi tóc này đang tu tập những pháp môn khổ hạnh sai lầm. Việc đó có lợi ích gì không?

– Không có lợi ích cả. Trước đây, ngay cả những bậc hiền trí cũng đã tưởng rằng có sự lợi ích nào đó trong việc tế lễ lửa thần, nhưng sau khi thực hành việc này một thời gian dài, đã nhận thấy rằng không có lợi ích gì trong việc ấy nên đã lấy nước dập tắt lửa, dùng gậy dập lửa xuống, và về sau không bao giờ nhìn nó nữa.

Thế rồi, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (banares), Bồ-tát thọ sinh vào trong một gia đình Bà-la-môn. Khi Ngài khoảng mưới sau tuổi, song thân của Ngài lấy ngọn lửa vào ngày sinh của Ngài và nói thế này:

– Con trai, con muốn mang lấy ngọn lửa khai sinh của con vào trong rừng và thờ phượng ngọn lửa ở đấy, hay con muốn học ba bộ Vệ đà, sinh cư như một người đàn ông có gia đình sống trong đời?

 Ngài trả lời:

 – Đối với con không có đời sống thế tục, con sẽ thờ phượng ngọn lửa của con trong rừng để được sanh về Phạm thiên giới.

 Vì thế, nhận ngọn lửa khai sinh của mình, Ngài chào tạm biệt song thân và đi vào rừng. Ở đó, Ngài sống trong một thảo am và thờ phượng ngọn lửa.

Một ngày nọ, có người mời Bồ-tát đến để cúng dường, và Ngài nhận được một vật phẩm gồm gạo và bơ. Bồ-tát nghĩ, “Gạo này ta sẽ cúng dường Đại Phạm Thiên.” Vì vậy, Ngài mang gạo về nhà và bỏ vào lửa thiêu đốt, rồi nói lời này:

–  Con nuôi dưỡng lửa bằng gạo này.

 Bồ-tát nói và ném gạo vào trong lửa, nhưng vì gạo chứa đầy tinh dầu nên đã làm cho ngọn lửa bốc cao lên và thiêu cháy thảo am của Ngài. Thế là Bà-la-môn kinh hoàng bỏ chạy, và ngồi xuống tại một nơi cách xa đó. Ngài nói:

 – Không nên thân giao với những kẻ xấu ác. Vì thân giao mà ngọn lửa này đã thiêu đốt thảo am được làm nên bằng sự khó nhọc của ta!

 Rồi Ngài đã đọc lên bài kệ thứ nhất:

Không gì tệ hơn bạn xâu xa               

Gạo bơ đầy đủ nuôi lửa già;

Nhìn kìa! Am thất làm khó nhọc

Lửa thần thiêu rụi bởi vì ta.

– Ta phải làm gì với ngươi đây, hỡi người bạn phản trắc kia!

Bồ-tát nói và dùng nước rưới lên ngọn lửa, dùng gậy dập tắt nó, rồi đi sâu vào núi. Ở đó, Ngài gặp một con hươu đen đang liếm mặt một con sư tử, một con cọp, và một con beo. Điều này khiến Ngài nghĩ rằng không có điều gì tốt hơn những người bạn tốt, và sau đó Ngài đọc lên bài kệ thứ hai:

Ta thấy không gì tốt đẹp hơn

Kết thân với những bạn thiện lành

Trông thấy cọp, beo, và sư tử

Hươu đen liếm mặt cả ba thân.

Bồ-tát suy nghĩ vậy và đi sâu vào trong núi. Ở đấy, Ngài xuất gia sống đời ẩn sĩ, tu tập Thần thông và Thiền định, đến khi mạng chung đã sanh về thế giới Phạm thiên.

* * *

Sau khi kể xong câu chuyện này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, ta là vị ẩn sĩ.

Chuyện Số  163: CHUYỆN VUA TU-SƯ-MA (Tiền thân Susīma)

Năm thớt voi đen, ngà trắng bạch…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc bố thí tuỳ ý.

Tại thành Xá-vệ (Sāvatthi), một vài gia đình đôi khi cúng dường cho đức Phật và chư Tỳ-kheo, nhưng đôi khi họ lại cúng dường cho những tu sĩ ngoại đạo, hay đôi khi những người bố thí tự tổ chức thành từng nhóm, hay những người trên cùng một đường phố họp chung lại, hay hết thảy những cư dân sẽ quyên góp tự nguyện, và đem cúng dường.

Vào dịp này, toàn thể cư dân đã quyên góp tự nguyện tất cả những phẩm vật thiết yếu, nhưng rồi ý kiến của họ bị phân rẽ. Một số đề nghị nên bố thí cho những tu sĩ ngoại đạo, một số khác nói bố thí cho những Tỳ-kheo theo đức Phật. Mỗi nhóm giữ chặt ý kiến của họ. Những đệ tử của những tu sĩ ngoại đạo đề nghị bố thí cho những tu sĩ ngoại đạo, còn những đệ tử của đức Phật đề nghị cúng dường cho tăng đoàn đức Phật. Sau đó vấn đề phân chia được đưa ra giải quyết, và họ đã phân chia một cách phù hợp, những người tán thành cúng dường cho đức Phật chiếm số đông.

Kế hoạch của họ như vậy được thực hiện, và những đệ tử ngoại đạo không thể ngăn chặn việc cúng dường cho đức Phật và Tăng chúng.

Dân chúng thỉnh Tăng đoàn của đức Phật và cúng dường trong bảy ngày, đến ngày thứ bảy thì cúng dường tất cả những phẩm vật mà họ quyên góp được. Đức Thế Tôn hồi hướng công đức, và sau đó chỉ dạy cho hội chúng về các Đạo quả. Rồi Ngài trở lại Kỳ Viên, đứng trước hương thất và giáo giới cho các Tỳ-kheo về những bổn phận phải làm của họ, sau đó đi vào hương thất.

Vào buổi tối, các Tỳ-kheo cùng bàn thảo vấn đề này trong Chánh pháp đường:

 – Thưa các Pháp hữu, những đệ tử ngoại đạo đã cố ngăn chặn việc cúng dường cho đức Phật! Tuy nhiên họ không thể thực hiện được điều đó. Tất cả những phẩm vật quyên góp cúng dường đã được đặt nơi chân Phật. Ôi, năng lực của đức Phật mới thật là kỳ diệu!

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi:

 –  Này các Tỳ-kheo, các thầy đang cùng bàn thảo điều gì vào giờ này?

Chư vị thưa sự việc với Ngài. Ngài nói:

 – Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên những đệ tử ngoại đạo cố ngăn cản việc cúng dường dành cho ta, mà trước đây họ cũng đã từng làm vậy, nhưng những phẩm vật này cuối cùng luôn được đặt nơi chân ta.

 Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

* * *

Thuở xưa, tại Ba-la-nại có một vị vua tên là Tô-tư-mã (Susīma) trị vì, và Bồ-tát là con trai của phu nhân quan tư tế. Khi Bồ-tát được mười sáu tuổi thì cha của Ngài qua đời. Khi còn sanh tiền, cha của Ngài là vị quan Tư Tế trong các lễ chúc tượng của nhà vua. Chỉ ông mới có quyền đối với tất cả những bộ đồ trang trí và những thiết bị dành cho những con voi tham gia buổi lễ. Nhờ cách này, ông kiếm được mười triệu đồng tiền vàng tại mỗi cuộc lễ.

Bấy giờ, mùa lễ hội chúc tượng lại đến. Những nhà Bà-la-môn lũ lượt kéo đến gặp vua và nói thế này:

 – Tâu Đại vương! Mùa dành cho lễ chúc tượng đã đến, đã đến lúc chúng ta nên tổ chức lễ hội. Nhưng giờ đây con trai của quan tư tế còn quá nhỏ, cậu ta không am hiểu ba bộ Vệ đà cũng không biết Tượng kinh. Chúng tôi được phép điều hành buổi lễ này chứ?

Nhà vua đã tán thành việc này.

Các Bà-la-môn hoan hỷ ra về, cười nói vui vẻ:

 – A ha, chúng ta đã ngăn cản được cậu nhóc này tổ chức lễ hội. Chúng ta sẽ làm việc đó và thu lấy tiền bạc lợi lộc!

Thế rồi, mẹ của Bồ-tát nghe rằng trong vòng bốn ngày tới sẽ có tổ chức một buổi lễ chúc tượng. Bà nghĩ, “Bảy đời nay, gia đình ta đã điều hành những lễ chúc tượng. Truyền thống này không lẽ đến đây chấm dứt, và tất cả tài sản rồi sẽ tan biến!” Bà khóc lóc, than vãn. Con trai bà thấy vậy liền hỏi:

 – Thưa mẹ, tại sao mẹ lại khóc như vậy?

  Bà kể lại sự việc. Bồ-tát nói:

 – Được rồi, thưa mẹ. Mẹ cho phép con tổ chức lễ hội này chứ?

 – Con nói gì, con tổ chức lễ hội hả? Con không biết ba bộ Vệ đà cũng không biết Tượng kinh thì làm sao có thể tổ chức lễ hội được?

  – Thưa mẹ, họ dự định tổ chức lễ hội vào khi nào?

 – Bốn ngày nữa con trai ạ.

 – Mẹ có biết người thầy thông hiểu ba bộ Vệ-đà và biết tất cả Tượng kinh ở đâu không?

 – Con trai ạ, cách đây hai ngàn dặm, ở Đắc-xoa-thi-la (Takkasilā), nước Kiện-đà-la (Gandhāha), có một người thầy như vậy.

Bồ-tát nói:

 – Thưa mẹ, quyền truyền thừa của chúng ta sẽ không mất. Con sẽ đến Đắc-xoa-thi-la (Takkasilā) nội trong một ngày, và nội trong một đêm là đủ để con học ba bộ Vệ đà và các Tượng Kinh. Ngày mai con sẽ lên đường, và vào ngày thứ tư con sẽ đứng ra tổ chức lễ chúc tượng. Thôi mẹ đừng khóc nữa!

 Bồ-tát an ủi mẹ như vậy.

Sáng sớm hôm sau, khi dùng điểm tâm xong, Bồ-tát một mình lên đường đến Đắ-xoa-thi-la, và chỉ trong một ngày Ngài đã đến đó. Sau khi tìm đến vị sư trưởng, Bồ-tát chào ông và ngồi xuống một bên.

– Con từ đâu đến đây? Sư trưởng hỏi.

– Thưa thầy, con từ Ba-la-nại đến.

– Con đến có mục đích gì không?

– Con đến thầy để học ba bộ Vệ-đà và những Tượng kinh.

– Được lắm, cậu bé ạ, con sẽ học được điều đó.

– Nhưng, thưa thầy –Bồ-tát thưa – trường hợp của con rất khẩn cấp.

 Rồi Bồ-tát thuật lại toàn bộ vấn đề, và nói thêm:

 – Thưa thầy, nội trong một ngày con đã trải qua hai ngàn dặm đường để đến đây. Xin thầy dạy cho con việc ấy chỉ trong đêm nay. Còn ba ngày nữa sẽ tổ chức lễ hội chúc tượng rồi, con sẽ học toàn bộ trong một bài học.

Sư trưởng đồng ý. Thế là Bồ-tát rửa chân cho ông và đặt trước mặt ông một ngàn đồng tiền học phí. Bồ-tát ngồi xuống một bên và học thuộc lòng bài học của mình. Vào lúc rạng đông, Bồ-tát đã hoàn tất ba bộ Vệ đà và những Tượng kinh. Sau đó, Bồ-tát hỏi:

 – Thưa thầy, còn có điều gì để học nữa không?

 – Không, con ạ, con đã học xong tất cả.

 Bồ-tát muốn sửa lại sự hiểu biết của sư trưởng cho đúng nên nói:

  – Thưa thầy, trong cuốn sách này có bài kệ tên như vậy được đưa vào quá muộn, và bài kệ kia đọc bị lệch. Về sau, thầy nên dạy cho các đệ tử như thế này…

 Nói vậy xong, Bồ-tát dùng điểm tâm và lên đường trở về, và chỉ trong một ngày đã về đến Ba-la-nại. Bồ-tát đến chào mẹ. Bà mẹ hỏi:

  – Con trai, con có học được bài học của con không?

 – Thưa có. Bồ-tát trả lời.

Nghe vậy, mẹ Ngài rất vui sướng.

Ngày hôm sau, lễ chúc tượng được chuẩn bị sẵn sàng. Một trăm con voi đã được dàn hàng, cùng với những đồ trang sức cùng cờ phướn bằng vàng, tất cả được bao phủ bằng một tấm lưới bằng vàng ròng. Toàn bộ sân cung điện đều được trang hoàng. Những vị Bà-la-môn đứng đấy, trang phục lễ nghi rực rỡ, họ nghĩ thầm, “Giờ đây chúng ta sẽ tổ chức buổi lễ này, chúng ta sẽ làm điều đó!”  Vừa khi ấy, nhà vua trang phục lộng lẫy ngự đến.

Bồ-tát trang phục giống như một vị hoàng tử, dẫn đầu đoàn tuỳ tùng của mình đi đến gần nhà vua và nói với ông:

 – Tâu đại vương, đây là sự thực chăng? Có phải đại vương định đoạt đi cái quyền này của tôi? Có phải ngài định trao cho những vị Bà-la-môn kia việc tổ chức lễ hội này? Có phải ngài nói rằng ngài muốn cho họ được sử dụng nhiều đồ trang sức và bình chậu?

 Rồi Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ nhất như sau:

Năm thớt voi đen, ngà trắng bạch

Của ngài, trang sức vàng đẹp thật.

“Cho khanh,” phải chăng ngài đã nói

Nhớ chăng quyền thừa kế tiền nhân?

Vua Tô-sư-ma nghe vậy, liền đọc lên bài kệ khác:

Năm thớt voi đen ngà trắng bạch,

Của trẫm, trang sức vàng đẹp thật.

“Cho khanh” đúng thế trẫm đã nói,

Nhớ quyền thừa kế từ người thân.

Thế rồi Bồ-tát suy nghĩ và nói:

  – Tâu đại vương, nếu đại vương còn nhớ đến quyền lợi trước đây của tôi và tục lệ xưa của ngài, vậy thì tại sao đại vương bỏ mặc tôi và cho những người kia tổ chức buổi lễ này?

   – Tại sao ư, người ta bẩm với trẫm rằng khanh không biết ba bộ Vệ-đà cũng không biết những Tượng kinh, vì thế trẫm cho những người kia tổ chức buổi lễ.

 – Rất hay, tâu đại vương. Nếu có người nào trong số những Bà-la-môn kia có thể đọc lên được một phần của Vệ đà hay Tượng kinh vượt qua tôi thì hãy để người ấy đứng trước đây! Khắp cõi Ấn Độ này, ngoài tôi ra, không có người nào biết được ba bộ Vệ đà và các Tượng Kinh để hướng dẫn một buổi lễ Chúc Tượng!

Lời nói hùng dũng vang lên như tiếng rống sư tử! Không một vị Bà-la-môn nào dám đứng lên để địch lại Bồ-tát. Vì thế, Bồ-tát giữ quyền truyền thừa của mình và đứng ra tổ chức lễ hội, sau đấy chất đầy của cải và trở về nhà.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, một số Tỳ-kheo đắc được quả Dự lưu, một số Tỳ-kheo đắc được quả Nhất lai, một số Tỳ-kheo đắc được quả Bất hoàn, và một số Tỳ-kheo đắc được quả A-la-hán.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, Ma-ha-ma-ya (Mahāmaya) là người mẹ, Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) là người cha, A-nan (Ānanda) là vua Tô-sư-ma (Susīma), Xá-lơi-phất (Sāriputta) là sư trưởng, còn ta chính là chàng Bà-la-môn trẻ.

Chuyện Số 164: CHUYỆN CHIM KÊN KÊN (Tiền thân Gijjiha)

Kên kên thấy tử thi…

Đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo đã phụng dưỡng mẹ mình. Những tình huống của câu chuyện sẽ được trình bày trong Tiền thân Sāma, số 523. Đức Thế Tôn hỏi thầy này có hay không một Tỳ-kheo phụng dưỡng những người thực sự vẫn còn đang sống trong đời. Thầy Tỳ-kheo này thừa nhận. Đức  Thế  Tôn hỏi  tiếp:

 – Họ có quan hệ thế nào với thầy?

 – Bạch Thế Tôn, họ là cha mẹ của con.

Đức Thế Tôn nói:

 – Lành thay, lành thay! Các thầy không nên phiền giận thầy Tỳ-kheo này. Những bậc Hiền trí ngày xưa đã phụng dưỡng ngay cả những người không có họ hàng với họ. Còn thầy này đã phụng dưỡng cha mẹ của mình.

Nói vậy rồi, đức Thế Tôn kể cho họ câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, Khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Banares), Bồ-tát sanh vào đời làm một chú Kên kên nhỏ ở trên ngọn Thứu sơn, sống và phụng dưỡng cha mẹ của mình.

Một hôm nọ, một trận mưa gió lớn đã ập đến đó. Những con Kên kên không đủ sức chống chọi lại mưa gió nên bay đến Ba-la-nại. Và ở đấy, gần vòng thành và đường hào, chúng đậu xuống, run rẩy vì cống lạnh.

Một vị Trưởng giả ở Ba-la-nại đang ra khỏi thành để đi tắm. Khi nhìn thấy những con Kên kên khốn khổ này, ông mang chúng lại một nơi khô ráo, đốt lửa lên, sai người đến bãi thiêu trâu bò đem về cho chúng một ít thịt trâu, rồi cắt người trong nom chúng.

Khi mưa bão chấm dứt, những con Kên kên bình an vô sự và bay về núi. Trong chốc lát chúng gặp mặt nhau và cùng bàn bạc với nhau thế này:

 –  Trưởng giả ở Ba-la-nai đã đối xử tốt với chúng ta. Chúng ta phải cư xử tốt để xứng đáng với những gì ông ấy đã giúp đở, thọ ân thì phải báo ân. Vì thế từ hôm nay, bất cứ thành viên nào trong chúng ta mỗi khi tìm thấy được áo quần hay đồ trang sức thì mang đến thả rơi vào trong sân Trưởng giả.

 Thế rồi kể từ hôm đó, mỗi khi nhìn thấy người ta phơi quần áo, xem xét lúc họ khinh suất, chúng sà xuống chụp nhanh lấy như những con diều hâu sà xuống chụp lấy miếng thịt, rồi thả rơi đồ vật ấy vào trong sân Trưởng giả. Nhưng Trưởng giả, mỗi khi thấy chúng đem đến cho mình một thứ gì đó thì thường đem cất đi.

Dân chúng tâu với nhà vua việc những con kên kên trộm cắp ở kinh thành. Vua nói:

 – Bắt ngay một con kên kên cho ta, ta sẽ bắt chúng trả lại tất cả.

Vì thế, lưới và bẫy được giăng khắp nơi, và chú Kên kên hiếu nghĩa này bị sa lưới. Họ bắt lấy chú và mang đến nhà vua. Vị Trưởng giả đang trên đường đến yết kiến nhà vua, nhìn thấy những người này đang mang con Kên kên đi, bèn đi chung với bọn họ, vì sợ họ giết chết Kên kên.

Họ trao Kên kên cho nhà vua, và nhà vua bắt đầu hỏi chú:

 – Có phải ngươi là kẻ đã đánh cắp và mang đi áo quần cùng những thứ khác trong kinh thành?

– Đúng thế, tâu đại vương.

– Ngươi mang chúng đến cho ai?

– Chúng tôi mang đến cho một vị trưởng giả ở Ba-la-nại.

– Tại sao ngươi làm vậy?

– Bởi vì ông ấy đã cứu mạng chúng tôi, mà tri ân thì phải báo ân, nên chúng tôi đã mang những thứ đó cho ông ấy.

– Người ta nói, loài Kên kên có thể nhìn thấy một tử thi cách xa trăm dặm, vậy tại sao ngươi không thể nhìn thấy một cái bẫy được đặt sẵn cho ngươi?

 Nói vậy xong, ông đọc lên bài kệ đầu tiên:

Kên kên thấy tử thi

Cách xa một trăm dặm.

Tại sao ngươi không thấy

Khi giẫm lên trên bẫy?

Kên kên lắng nghe, sau đó trả lời bằng cách đọc lên bài kệ thứ hai:

Mạng sống khi sắp hết,

Giờ chết kéo lại gần,

Ngài không thể nhìn thấy,

Dù lưới, bẫy kề cận.

Nghe Kên kên trả lời vậy, nhà vua đi đến vị Trưởng giả và hỏi:

 – Có thật là những con Kên kên đã mang những thứ đó cho ông không?

– Đúng thế, tâu đại vương.

– Những thứ này giờ ở đâu?

–  Tâu đại vương, tôi đã cất giữ tất cả tại một nơi. Nếu chú Kên kên này được thả ra thì tất cả những ai mất của sẽ được nhận lại tài sản của mình!

Nhà vua can thiệp và con Kên kên được trả tự do, còn vị trưởng giả hoàn trả lại tất cả tài sản cho những chủ nhân của nó.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ kheo hiếu thảo này đắc được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, A-Nan (Ānanda) là nhà vua, Xá-lợi-phất (Sāriputta) là vị Trưởng giả, còn ta chính là chú Kên kên đã phụng dưỡng cha mẹ.

Chuyện Số 165: CHUYỆN CON CHỒN (Tiền thân Nakula)

Kẻ thù ngươi noãn sanh…

Trong khi lưu trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về hai vị quan thường hay tranh cãi với nhau. Những sự kiện đã được trình bày ở Tiền thân Uraga, số 154. Ở đây cũng giống như trước, đức Thế Tôn nói:

  – Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên ta đã hoà giải cho hai vị quan này thôi đâu. Vào đời trước, ta cũng đã từng hoà giải cho họ rồi.

 Sau đó, Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Banares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai của một gia đình Bà-la-môn. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát được đưa đến theo học tại Xoa-thi-la (Takkasilā). Rồi sau đó, Ngài xuất gia làm một vị ẩn sĩ trú trong vùng Tuyết Sơn (Himalaya), tu tập Thiền định và Thần thông, sống nhờ vào củ và trái cây hái được trong rừng.

Ở cuối con đường kinh hành của Ngài, có một con Chồn sống trong một tổ mối; và cách đó không xa, có một con Rắn sống trong một hốc cây. Hai con vật này, Rắn và chồn, thường xuyên tranh cãi với nhau. Bồ-tát đã thuyết giảng cho chúng về nguy hại của tranh cãi và lợi ích của hoà hợp. Rồi để hoà giải cho hai con vật này, Ngài nói:

  – Hai ngươi nên chấm dứt tranh cãi và sống hoà hợp với nhau.

Khi con Rắn đi vắng, con Chồn nằm thò đầu ra khỏi tổ mối ở cuối đường kinh hành, hả miệng ra mà ngủ, hít thở nặng nề. Bồ-tát thấy nó ngủ ở đấy thì hỏi nó:

– Ngươi sợ điều gì?

Rồi Ngài đọc lên bài kệ thứ nhất:

Kẻ thù ngươi noãn sanh

Một người bạn trung thành:

Sao ngươi nhăn răng ngủ

Có gì không an lành?

Nghe vậy, chồn nói:

 – Thưa Ngài, đừng bao giờ xem thường kẻ thù cũ, phải luôn cảnh giác y.

Và nó đọc lên bài kệ thứ hai:

Kẻ thù đừng coi khinh

Bạn bè chớ vội tin:

Đoạn trừ tận gốc rễ

Điều phát sanh hãi kinh.

Bồ-tát nói:

 – Đừng sợ hãi như vậy. Ta đã khuyên con Rắn không được làm hại ngươi, đừng nghi ngờ nó nữa.

 Khuyên vậy rồi, Bồ-tát chuyên tâm tu tập bốn Phạm trú (Từ, Bi, Hỷ, Xả) và sau đó sanh về Phạm Thiên giới. Còn hai con vật đó sau khi mạng chung cũng tái sanh theo hành nghiệp của chúng.

* * *

Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thuở đó, hai vị quan này là Rắn và Chồn, còn ta chính là vị ẩn sĩ.

Chuyện Số 166: CHUYỆN BÀ-LA-MÔN Ô-BÀ-SA-LỖ-CÁP (Tiền thân Upasāha)

Lỗ Cáp, bốn vạn lần…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một vị Bà-la-môn có tên là Ô-bà-sa-lỗ-cáp (Upasāha), một người rất khó tính trong việc chọn nghĩa địa.

Vị Bà-la-môn này là một người rất giàu sang, nhưng lại theo tà giáo, tuy sống đối diện với tịnh xá nhưng không có thiện cảm với chư Phật. Ông có một người con trai hiền trí và thông minh. Khi chàng đến tuổi trưởng thành, ông nói với chàng:

Này con, khi cha qua đời, con đừng hỏa táng cha tại nghĩa địa dành cho hạng tiện dân, con phải tìm ra một nơi nào đó trong sạch để hoả táng cha.

 – Thưa cha – chàng trai nói –  Con không biết nghĩa địa như vậy nằm ở đâu? Xin cha hãy dẫn con đi và chỉ cho con nơi ấy.

 Vị Bà-la-môn đồng ý và dẫn con trai mình ra khỏi kinh thành để đến Thứu sơn. Đến đó, ông ta nói:

  – Ở đây, này con, chưa từng có một kẻ tiện dân nào hỏa táng, cha mong con hỏa táng cha ở đây.

 Sau đó, ông cùng con trai của mình xuống núi.

Tối hôm đó, đức Thế Tôn quán sát xem có người nào trong số những thân hữu của Ngài đầy đủ căn duyên giác ngộ không, và nhận biết rằng hai cha con người này đã đủ duyên chứng nhập quả Dự lưu. Vì thế, theo con đường họ đi, Ngài đi đến chân núi và ngồi đợi ở đấy, giống như một người thợ săn chờ đợi con mồi của mình. Ngài ngồi đợi mãi đến khi họ từ đỉnh núi đi xuống. Họ xuống núi và nhìn thấy đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn chào họ, rồi hỏi:

 –  Này các Bà-la-môn, các vị đi đâu về vậy?

Chàng trai kể cho Ngài nghe sự việc. Ngài nói:

 – Hãy đi và chỉ cho ta xem nơi cha của anh đã chỉ.

 Thế rồi Ngài cùng với hai cha con họ leo lên núi. Đến nơi, Ngài hỏi:

– Chỗ nào?

– Thưa Ngài, chỗ nằm giữa ba ngọn đồi đó là nơi cha con đã chỉ. Chàng trai nói.

– Này chàng trai, đây không phải là lần đầu tiên cha của anh câu nệ trong vấn đề chọn lựa nghĩa địa thôi đâu, mà trước đây ông ấy cũng đã vậy rồi. Không phải chỉ bây giờ ông ấy mới bảo anh hỏa táng ông ấy nơi đây, mà đời trước ông ấy cũng đã chỉ nơi này.

  Rồi theo lời thỉnh cầu của chàng trai, đức Thế Tôn đã kể cho họ câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, tại thành Vương-xá (Rājagaha) này, có một vị Bà-la-môn tên là Ô-bà-sa-lỗ-cáp (Upasāha). Ông ta có một người con trai. Vào thuở đó, Bồ-tát  thọ sanh vào trong một gia đình ở nước Ma-kiệt-đà (Magadha). Khi Bồ-tát hoàn tất các việc học, Ngài xuất gia học đạo, tu tập Thần thông và Thiền định, sống một thời gian dài ở vùng Tuyết sơn (Himalaya), thọ hưởng hỷ lạc thiền định.

Một hôm, Bồ-tát rời nơi ẩn cư ở Thứu sơn để đi kiếm muối và gia vị. Trong khi Ngài vắng mắt, vị Bà-la-môn này đã nói với con trai mình về vấn đề nghĩa địa giống như đã nói ở trên. Chàng trai xin cha mình chỉ ra một nơi đích thực, và ông đã chỉ ra chính nơi này. Khi ông ta cùng với con trai xuống núi, ông ta nhìn thấy Bồ-tát và đi đến gần Ngài, rồi Bồ-tát đã đặt câu hỏi giống như vừa được trình bày. Rồi sau khi nhận được câu trả lời của chàng trai. Ngài nói:

 – Hãy đi, rồi chúng ta sẽ biết nơi cha anh chỉ là uế nhiễm hay không.

Rồi Ngài cùng với họ trèo lên lại ngọn núi. Đến đấy, chàng trai nói:

 – Nơi nằm giữa ba ngọn đồi kia là trong sạch.

Bồ-tát trả lời:

 – Này chàng trai, chính nơi này đã có vô số người đã được hỏa táng. Đời trước, cha của anh cũng từng sanh làm một người Bà-la-môn ở Vương-xá, cũng mang cái tên Ô-bà-sa-lỗ-cáp như vậy, và đã hỏa táng trên ngọn đồi này mười bốn ngàn lần. Trên khắp thế gian này, không thế tìm đâu ra một nơi không có tử thi hỏa táng, một nơi không phải là nghĩa địa, một nơi không có xương cốt đầu lâu chất đầy.

Bồ-tát biết được điều này là nhờ túc mạng minh của mình. Sau đó Ngài đọc lên hai bài kệ này:

Lỗ-cáp, bốn vạn lần

Đã hỏa táng nơi đây,

Không đâu trên trần thế

Không có người bỏ thây.

 

Từ ái và chánh nghĩa

Chân thực và tiết chế,

Thần chết không thấy lối;

Bậc thánh sống như thế.

Khi giảng thuyết như vậy cho hai cha con xong, Bồ-tát tu tập Tứ vô lượng tâm, và sau đó sanh về thế giới Phạm thiên.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh Đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, hai cha con người này đắc được quả Dự lưu.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, hai cha con này cũng là họ bây giờ, còn ta chính là vị ẩn sĩ.

Chuyện Số 167: CHUYỆN TÔN GIẢ HOÀN MỸ (Tiền Sanh Samiddhi)

Khất thực tỳ kheo, thầy có hay…

Trong khi trú tại Ôn Tuyền tinh xá (Tapoda), gần thành Vương Xá (Rājagaha), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Tôn giả Hoàn Mỹ (Samidhi).

Một lần, Tôn giả Hoàn Mỹ suốt đêm an trú trong thiền định. Rồi vào lúc bình minh, thầy xuống sông tắm rửa, sau đó quấn nội y, cầm thượng y trên tay và đứng phơi thân cho khô. Khi thầy đứng như vậy, toàn thân thể rực lên như vàng. Thầy giống như một bức tượng bằng vàng được tạc bởi một tay thợ thiện xảo, sự hoàn thiện của vẽ đẹp. Đó là lý do tại sao thầy được gọi là Hoàn Mỹ.

Một thiên nữ nhìn thấy vẽ đẹp khác thường của Tôn giả đã sanh lòng say đắm, và đã hỏi thầy như thế này:

 – Này Tỳ-kheo, Thầy còn trẻ và đầy nhựa sống, chỉ là một thanh niên với mái tóc còn xanh. Chao ôi! thầy có tuổi xuân, thầy đáng yêu và khả ái trong mắt mọi người. Tại sao một người như thầy lại xuất gia mà không hưởng thụ khoái lạc cuộc đời? Trước tiên thầy nên thọ hưởng lạc thú cuộc đời, rồi sau xuất gia và thực hành hạnh Sa môn!

Nghe vậy, Tôn giả trả lời:

 – Này Thiên nữ, đến một lúc nào đó ta phải chết, và lúc nào chết ta không biết; thời gian đó đối với ta bị che kín. Do đó trong sự sung mãn của tuổi xuân, ta nguyện sống đời xuất gia, mong được chấm dứt khổ đau.

Thiên nữ xét thấy không cám dỗ được Tôn giả, liền vội biến mất. Tôn giả đi đến bạch với đức Thế Tôn về việc đó. Nghe thế đức Thế Tôn nói:

  – Này Hoàn Mỹ, không phải chỉ mình thầy bây giờ bị Thiên nữ cám dỗ thôi đâu. Vào đời trước, những người xuất gia cũng đã bị thiên nữ cám dỗ.

 Và theo lời thỉnh cầu của thầy, đức Thế Tôn kể lại một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vị vua trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình Bà-la-môn sống tại một ngôi làng ở Ca-thi (Kāsi). Đến tuổi trưởng thành, sau khi hoàn thiện tất cả việc học của mình, Bồ-tát đã xuất gia làm ẩn sĩ, sống trong rặng Tuyết Sơn (Himalaya), cận bên một hồ nước tự nhiên, tu tập Thiền định và Thần thông.

 Bồ-tát suốt đêm an trú trong thiền định, và vào lúc mình minh, Ngài tắm rửa, mặc một chiếc y làm bằng vỏ cây, còn tấm y kia cầm tay, Ngài đứng lên phơi thân cho khô. Vào lúc đó, một thiên nữ nhận thấy vẽ đẹp hoàn thiện của Ngài đã sanh lòng say đắm. Cám dỗ Ngài, cô nàng đọc lên bài kệ đâu tiên: 

Khất thực Sa môn, thầy có hay

Những lạc thú gì giữa đời nay ?

Đây chính là lúc, không lúc khác

Trước hãy hưởng lạc, tu sau này!

 Bồ-tát lắng nghe lời của thiên nữ, và sau đó trả lời, bày tỏ chí nguyện của mình bằng cách đọc lên bài kệ thứ hai: 

Giờ phút mạng chúng tôi không hay

Thời gian giấu che không hiển bày

Giờ là đúng lúc, không lúc khác:

Xuất gia khất thực, chính lúc này.

Khi nghe Bồ-tát nói vậy, Thiên nữ lập tức biến mất.

* * *

Sau pháp ngữ này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

Thiên nữ là người như vậy trong cả hai câu chuyện, còn ta chính là ẩn sĩ.

Chuyện Số 168: CHUYỆN CHIM ƯNG (Tiền thân Sakuagghi)

Cút nơi bãi kiếm ăn… 

Khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về ý nghĩa bài kinh Huấn Điểu (Sakuvāda-sutta).

Một hôm, đức Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo đến và nói:

 – Này các Tỳ kheo, khi các thầy khất thực, mỗi người hãy giữ đúng địa hạt của mình.

  Rồi Ngài đọc lên bài kinh từ trong Đại Phẩm (Mahāvagga), phù hợp với trường hợp này. Rồi Ngài nói tiếp:

 – Đời trước, những loài muông thú đã từ bỏ địa hạt của mình, xâm phạm vào khu vực của người khác nên đã rơi vào tay kẻ thù. Nhưng sau nhờ trí thông minh và sáng kiến, chúng đã thoát khỏi kẻ thù của chúng.

 Nói vậy rồi, Ngài kể lại một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

 Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmatta) là vua trị vì Ba-la-nại (Banares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một con chim Cút nhỏ, kiếm thức ăn quanh quẩn trên nhưng tảng đất ở cánh đồng vừa được cày xới.

Một hôm, chim Cút nghĩ rằng nó sẽ rời chỗ kiếm ăn của mình để đi đến một nơi khác, vì thế chim Cút bay đến bìa rừng. Khi Cút nhặt thức ăn ở đấy, một con chim Ưng nhìn thấy đã vội sà nhanh xuống cắp chú tha đi.

Khi bị chim Ưng cắp lấy, chim Cút kêu than:

– Ôi! Ta là kẻ thật không may mắn chút nào! Trí khôn của ta thật quá kém cõi! Ta đã xâm phạm vào địa hạt của kẻ khác nên mới đến nỗi này! Ôi, giá như ta cứ giữ lấy địa hạt của mình, nơi cha mẹ ta trước đây đã ở, thì con chim Ưng này không thể nào địch được ta, nếu hắn ta đến đánh!

 – Này con Cút giối trá – chim Ưng nói – đâu là bãi đất nơi ông cha mày kiếm ăn?

– Một cánh đồng được cày xới phủ đầy đất cục!

Lúc ấy, chim Ưng nới lỏng sức mạnh của mình và nói:

– Này Cút, mày hãy bay đi! Mày sẽ không thoát khỏi tay ta đâu, cho dù ở bãi đất đó!

Chim Cút bay trở lại bãi đất, đậu trên một tảng đất lớn và gọi:

 – Này chim Ưng, giờ thì hãy đến đây!

Giữ thăng bằng đôi cánh, chim Ưng cố hết sức lao nhanh xuống chim Cút. Cút nghĩ, “Hắn ta đang cố hết sức lao xuống đây!” Và rồi ngay khi ấy, Cút lách người tránh qua một bên để cho chim Ưng kia đập đúng vào tảng đất. Chim Ưng không thể kìm hãm được nên đập mạnh ngực vào đất, tim vỡ ra làm hai, lòi mắt ra và bỏ mạng.

* * *

 Khi kể xong câu chuyện này, đức Thế Tôn nói thêm:

– Thế nên này các Tỳ-kheo, các thầy thấy đấy, ngay cả loài chim cũng rơi vào tay kẻ thù bởi rời bỏ địa hạt của mình. Nhưng khi chúng giữ lấy địa hạt của mình, chúng lại thắng được kẻ thù. Do đó, các thầy không nên rời bỏ địa hạt của mình và xâm phạm vào địa hạt của người khác. Này các Tỳ-kheo, khi người ta rời bỏ địa hạt của mình, Ma vương sẽ tìm ra cửa ngõ, Ma vương sẽ kiếm được chỗ đứng. Này các Tỳ-kheo, nơi nào là địa hạt của người khác, là không phải nơi dành cho Tỳ-kheo? Ở đây, Ta muốn nói đến Ngũ dục. Năm thứ dục này là gì? Tức là mắt thấy sắc khởi tâm tham… Này các Tỳ-kheo, đây không phải nơi dành cho Tỳ-kheo.

 Sau đó hiển bày giác ngộ viên mãn, đức Thế Tôn đọc lên bài kệ thứ nhất:

Cút nơi bãi kiếm ăn,

Từ cao Ưng sà nhanh.

Quá sức không tự chế,

Nên phải chịu vong thân.

* * *

Khi thấy Ưng đã chết, Cút liền đi ra và kêu lên:

–  Vậy là ta đã thấy lưng kẻ thù của ta!

Rồi đậu lên  ngực kẻ thù, Cút hân hoan đọc lên bài kệ thứ hai:

Ta khéo dùng phương tiện

Giờ thắng lợi hoan ca.

Ta tống được kẻ thù

Bằng giữ bãi đất ta.

* * *

Lúc kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, nhiều Tỳ-kheo đắc được quả Dự lưu.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Thuở ấy, Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) là chim Ưng, còn ta chính là chim Cút.

Chuyện Số 169: CHUYỆN ẨN SĨ A-LA-CA (Tiền thân Araka)

 Tâm từ rộng bao la…

Câu chuyện này, ở tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể về Từ Tâm kinh.

Một lần nọ, đức Thế Tôn dạy chư Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, Nếu Từ bi tâm được tu tập với tất cả lòng thành, được chú tâm, được làm tăng trưởng, được tạo thành một phương tiện chuyển tải tiến triển, tạo thành đối tượng của các thầy, được thực hành, được nỗ lực, thì có thế đem lại Mười một lợi ích. Mười một lợi ích gì? Đấy là: thức an vui, ngủ an vui, không thấy ác mộng, được người yêu mến, quỷ thần bảo hộ, lửa, chất độc, và gươm dao không đến gần, tâm chống được định tĩnh, vẻ mặt điềm tĩnh, khi chết không hoảng hốt, hiểu rõ lý thượng thừa, được sanh vào cõi Phạm Thiên. Từ bi tâm, này các Tỳ-kheo, được thực hành với lòng mong cầu giải thoát … có thể đem lại Mười một lợi ích. Này các Tỳ-kheo, tán thán Từ bi tâm thì có được Mười một lợi ích. Một Tỳ-kheo nên thể hiện từ tâm đối với tất cả chúng sanh, dù được bảo hay không, vị ấy cũng nên là bạn của người thân, là bạn của người không thân, là bạn của mọi loài, xem tất tất cả bình đẳng không phân biệt, cho dù được bảo rõ ràng hay không, vị ấy cũng nên thể hiện Từ bi tâm. Vị ấy nên thể hiện tâm hỷ và thực hành tâm xả. Vị ấy nên tu tập Tứ vô lượng tâm. Bằng cách thực hành như vậy, vị ấy sẽ sanh vào Phạm Thiên giới cho dù không đạt được Đạo hay Quả. Đời trước, những bậc Hiền trí nhờ tu tập Từ tâm trong bảy năm, đã bảy đời sanh vào cõi Phạm Thiên, mỗi lần với một thời kỳ thành hoại của nó.

 Và rồi, Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, vào một tiền kiếp, Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình Bà-la-môn, và Ngài có tên là A-la-ca (Araka). Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát từ bỏ mọi lạc thú cuộc đời, xuất gia làm ẩn sĩ, chứng đạt được Tứ vô lượng tâm, và trở thành bậc Đạo sư của một hội chúng đệ tử đông đảo sống ở vùng Tuyết sơn. Một hôm, để giáo giới hội chúng những vị ẩn sĩ, Ngài nói:

 – Này các vị, một người xuất gia cần phải tu tập từ bi tâm, phải tu tập hỷ tâm và xã tâm, vì từ bi tâm là điều kiện tiên quyết cho một người sanh vào cõi Phạm thiên.

 Và sau khi giảng giải lợi ích của từ bi tâm, Bồ-tát đọc lên hai bài kệ:

Tâm từ rộng bao la

Thương yêu khắp mọi loài

Cõi trời hay hạ giới

Và giữa thế gian ta.

 

Chứa đầy lòng thương cảm

Tâm từ rộng vô hạn

Trong tâm không chật hẹp

Không hề bị giam hãm.

Như vậy, Bồ-tát đã thuyết giảng cho những đệ tử của mình về việc tu tập tâm từ bi và lợi ích của nó. Rồi với thiền định không ngưng nghỉ, Ngài sanh vào cõi Phạm Thiên, và trong bảy thành, hoại kiếp, đã không sanh trở lại cõi đời này.

** *

Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

Thuở đó,  hội chúng những vị ẩn sĩ là hội chúng đệ tử đức Phật bây giờ, còn ta chính là Đạo sư A-la-ca (Araka).

Chuyện Số 170: CHUYỆN CON KỲ NHÔNG (Tiền Sanh Kakaṇṭaka)

 Câu chuyện Tiền thân Kanaṇṭaka này sẽ được trình bày về sau, ở Tiền thân Mahā-Umamagga, số 538.

Chương I        Chương II       Chương III       Chương IV        Chương V    

Chương VI     Chương VII     Chương VIII     Chương IX        Chương X

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Hội PG Thảo Đường


  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp   


    Lịch sinh hoạt Phật sự

        

      Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem chi tiết lịch sinh hoạt  

      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh   


       

      Tôn ảnh Phật ngọc

       

       

         Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

      Đọc tiếp   

       

      Các trang web liên kết