CHUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

Tập 1 - Chương VII -  Phẩm người nữ

Chuyện số 61: CHUYỆN BÀI KINH KHỔ ĐAU (Tiền thân Asātamanta)

Nữ nhân nhiều ái dục

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo bị dao động bởi ái dục. Tình tiết của câu chuyện sẽ được trình bày ở Tiền thân Ummadabtī, số 527. Ở đây, đức Thế Tôn nói với Tỳ-kheo này:

- Này Tỳ-kheo, nữ nhân đầy dục vọng, phóng đãng, xấu xa và hèn kém. Tại sao thầy lại dao động tình cảm vì hàng nữ nhân xấu xa như vậy.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm một vị Bà-la-môn sống ở thành Xoa-thi-la (Takkasilā), thuộc nước Kiền-đà-la (Gandhāra). Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát tinh thông ba bộ Vệ-đà và tất cả mọi ngành học. Bồ-tát là một vị thầy thông thái, danh tiếng lan rộng khắp thế gian. 

Bấy giờ, ở Ba-la-nại (Benares) có một gia đình nọ có một người con trai. Vào ngày sinh của cậu bé này, cha mẹ cậu đã đốt lên một ngọn lửa và giữ nó cháy liên tục cho đến khi cậu bé được mười sáu tuổi. Sau đó, cha mẹ cậu nói cho cậu biết về ngọn lửa được đốt vào ngày sinh của cậu - ngọn lửa chưa bao giờ bị tắt, và bảo cậu hãy chọn lựa: nếu cậu muốn trong tương lai được sanh về thế giới Phạm thiên thì hãy mang lấy ngọn lửa và rút vào trong rừng, ở đó hãy thực hiện ý muốn của mình bằng cách thờ phượng ngọn Lửa thần không ngừng nghỉ. Còn nếu cậu thích hưởng thụ những thú vui của đời sống gia đình thì hãy đi đến Xoa-thi-la (Takkasilā) và học tập với một vị thầy danh tiếng thế gian để biết cách quản lý gia sản. Chàng trai Bà-la-môn thưa với cha mẹ:

- Thưa cha mẹ, con không muốn thờ Lửa thần. Con muốn làm một vị gia chủ.

Vì thế từ biệt cha mẹ, chàng trai nhận lấy một ngàn đồng tiền để đống tiền học và đi đến Xoa-thi-la. Ở đấy, chàng học tập cho đến khi hoàn mãn và sau đó trở lại nhà.

Bấy giờ, cha mẹ của chàng muốn chàng xuất gia và thờ Lửa thần ở trong rừng. Và vì muốn chàng vào rừng tu tập nên mẹ của chàng đã làm cho chàng thấu hiểu được sự xấu xa của nữ nhân. Bà tin chắc rằng người thầy thông thái và hiền trí của chàng sẽ có thể làm cho chàng thấy được bản chất nguy hại của ái dục, và vì thế bà đã hỏi chàng:

- Này con, có đúng là con đã hoàn thành việc học của mình không.

 Chàng trả lời:

- Vâng thưa mẹ, con đã hoàn thành việc học.

- Thế con có học được những bài kinh Khổ đau không?

- Thưa mẹ, con không được học những bài kinh này.

Mẹ chàng nói:

- Thế sao con có thể nói rằng con đã hoàn tất việc học của mình? Con hãy trở lại vị tôn sư và khi nào học xong những bài kinh đó thì hãy quay về đây với cha mẹ.

- Vâng thưa mẹ.

Chàng trai nói và một lần nữa trở lại Xoa-thi-la.

Bấy giờ tôn sư của chàng cũng có một người mẹ - một bà lão đã một trăm hai mươi tuổi, và ông phải tận tay tăm rửa, đút thức ăn và chăm sóc bà. Nhưng vì bị những người hàng xóm khinh khi nên ông quyết định đưa mẹ của mình vào rừng và sống ở đấy. Ở trong khu rừng vắng vẻ, ông cất một thảo am tại một địa điểm vừa ý - nơi có nhiều nước. Và sau khi thu gom bơ, gạo cùng những vật dụng khác, ông đưa mẹ mình đến ngôi nhà mới và sống phụng dưỡng mẹ già.

Không tìm thấy sư tôn của mình ở Xoa-thi-la, chàng trai Bà-la-môn dò hỏi và hiểu ra được vấn đề. Thế rồi chàng đi đến khu rừng đó và cung kính chào tôn sư. Tôn sư hỏi:

- Này con, có việc gì mà con vội trở lại?

Chàng trai nói:

- Thưa thầy, con nghĩ là khi con ở với thầy con chưa học được những bài kinh Khổ đau.

- Nhưng ai bảo với con rằng con phải học những bài kinh Khổ đau?

- Thưa thầy, mẹ của con. Chàng trai trả lời.

Bồ-tát biết không có những bài kinh Khổ đau như mẹ chàng trai nói. Ngài hiểu rằng mẹ chàng trai vì muốn con mình nhận ra sự xấu xa của nữ nhân nên mới bảo như vậy. Vì thế, ngài nói với chàng trai là điều đó hoàn toàn đúng và rằng chàng phải nên học những bài kinh đó. Ngài nói:

- Từ hôm nay con phải chăm sóc mẹ của ta. Hãy tự tay tắm rửa, đút ăn và chăm sóc bà. Khi xoa bóp tay, chân và lưng của bà, con hãy nhớ nói: Ôi thưa bà, bây giờ đã già mà bà còn xinh đẹp như vậy thì lúc tuổi thanh xuân bà đẹp đến mức nào! Và khi tắm và xức dầu thơm lên tay và chân, con cũng khen ngợi như vậy. Thêm nữa, không nên dè dặt mà hãy nói với ta tất cả những gì mà mẹ của ta đã nói với con. Nếu vâng lời ta con sẽ thấu hiểu được những bài kinh Khổ đau. Còn không vâng lời ta, con sẽ không bao giờ biết được chúng.

Vâng theo lời chỉ dạy của tôn sư, chàng trai đã làm tất cả những gì mà ngài bảo. Còn bà lão, khi liên tục được khen ngợi có sắc đẹp như vậy thì nghĩ rằng chàng trai yêu thích mình. Và mặc dù bị mù lòa và già yếu, tình ái trong bà vẫn bùng lên mãnh liệt. Rồi một hôm nọ, bà ngắt lời khen ngợi của chàng trai bằng cách hỏi:

- Này cậu, có phải cậu yêu thích tôi không?

- Thưa bà, thật đúng như vậy, nhưng thầy của con quá nghiêm khắc. Chàng trai trả lời.

- Nếu cậu yêu thích ta thì hãy giết con trai ta! Bà lão nói.

- Nhưng làm sao tôi giết được ông ấy khi ông ấy đã dạy cho tôi thật nhiều điều? Làm sao tôi lại giết được tôn sư của mình chỉ vì mục đích tình ái?

- Thôi được, nếu cậu chung thủy với tôi, tôi sẽ giết con trai tôi.

(Phụ nữ đầy dục vọng, hèn hạ và đồi bại; bị tham trói buộc, giống như một mụ phù thủy, và khi đã già rồi thật sự vẫn thèm khát máu của người con trai hiếu thảo!)

Bấy giờ, thanh niên Bà-la-môn kể lại tất cả việc này với Bồ-tát. Bồ-tát khen ngợi chàng vì đã thuật lại vấn đề. Ngài nhận thấy rằng mẹ của mình mong muốn sống lâu hơn, nhưng thực ra mạng sống của bà đang chết dần trong từng ngày. Ngài nói:

- Này thanh niên Bà-la-môn, thôi được rồi. Ta sẽ thử bà lão.

Thế rồi ngài chặt một cây sung và đẽo nó thành một cái tượng gỗ kích cỡ bằng hình dáng của ngài, sau đó lấy một cái áo bọc nó từ đầu tới chân và đặt nằm lên trên giường của mình. Rồi cột một sợi dây vào tượng gỗ, ngài nói:

- Bây giờ hãy mang đến cho mẹ của ta một cái rìu và đưa sợi dây này cho bà, bảo bà hãy lần theo sợi dây này mà đi đến chỗ ta nằm.

Thế rồi chàng trai đi đến chỗ bà lão và nói:

- Thưa bà, thầy tôi đang nằm trên giường của mình ở trong nhà. Tôi đã cột sợi dây này để bà lần mà đến đó. Nếu bà có thể thì hãy nắm lấy cái rìu này và giết chết ông ấy.

- Nhưng cậu sẽ không bỏ rơi ta chứ? Bà lão hỏi.

- Sao tôi bỏ rơi bà được chứ? Chàng trai trả lời.

Thế rồi bà lão nắm lấy cái rìu, chân run run đứng dậy, dò dẫm bước lần theo sợi dây, cho đến khi nghĩ là đã sờ trúng con mình. Thế rồi bà lột lớp áo trên đầu pho tượng ra, nghĩ sẽ giết chết con trai mình bằng một nhát chém duy nhất. Vì thế bà giáng cái rìu xuống chính ngay nơi cổ của bức tượng, và khi nghe tiếng kêu thịch phát ra mới nhận ra đó là khúc gỗ! Bồ-tát hỏi:

- Thưa mẹ, mẹ đang làm gì vậy?

Nghe tiếng hỏi, bà lão phụ bạc kêu thét lên và ngã xuống chết trên nền nhà. Truyền thuyết nói rằng, số của bà ta là phải chết vào thời điểm đó và chết chính dưới mái nhà của mình.

Khi thấy bà lão đã chết, Bồ-tát đem thi hài của bà hỏa táng. Và khi ngọn lửa giàn thiêu đã được dập tắt, Bồ-tát lấy hoa rừng rải lên lớp tro. Sau đó ngài ngồi nơi cửa thảo am cùng với thanh niên Bà-la-môn và nói:

- Này con, không có bài kinh nào là bài kinh Khổ đau cả. Chính phụ nữ là hiện thân của sự đồi bại. Khi mẹ của con gửi con trở lại ta để học bài kinh Khổ đau, mục đích của bà là muốn con biết nữ giới thì xấu xa như thế nào. Bây giờ con đã tận mắt chứng kiến sự xấu xa của mẹ ta, và như vậy con thấy được nữ nhân thì luôn đầy ái dục và tệ bạc.

Dạy bảo vậy xong, ngài bảo chàng trai hãy trở về. Chào tạm biệt tôn sư, chàng trai Bà-la-môn trở về nhà gặp cha mẹ. Mẹ của chàng hỏi chàng:

- Giờ con đã học được được những bài kinh Khổ đau chưa?

- Thưa mẹ, con đã học được.

Bà mẹ hỏi:

- Vậy cuối cùng con chọn lựa điều gì: xuất gia thờ Lửa thần, hay chọn đời sống gia đình?

Thanh niên Bà-la-môn trả lời:

- Thưa mẹ, con đã tận mắt nhìn thấy sự xấu xa của nữ nhân. Con sẽ không sống đời sống gia đình mà sẽ xuất gia.

        Và chàng trai thốt lên bài kệ này:

Nữ nhân nhiều ái dục

Buông thả và mê cuồng.

Dục tình như ngọn lửa

Thiêu cháy không tiếc thương.

Nay con muốn xuất gia

Đoạn ái dục khổ lụy

Tìm lấy sự an bình

Trong cuộc đời ẩn sĩ.

Chỉ trích nữ nhân như vậy xong, thanh niên Bà-la-môn từ giã cha mẹ và xuất gia sống đời ẩn sĩ. Chàng đạt được sự an bình mà mình mong muốn, và sau khi mạng chung đã sanh về thế giới Phạm thiên.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

- Này Tỳ-kheo, nữ nhân đầy dục vọng, phóng đãng, xấu xa và hèn kém.

Sau khi nói lên những sự xấu xa của nữ nhân, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Kết thúc thời pháp, Tỳ-kheo này chứng được quả Dự lưu. Sau cùng, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Ca-ti-la-ni (Kāpilānī) là người mẹ, Đại Ca Diếp (Mahā-Kassapa) là người cha, A-nan là người con, còn ta chính là vị tôn sư.

Chuyện số 62: CHUYỆN CÔ GÁI LỪA GIỐI (Tiền thân Andbhūta)

Bịt mắt để chơi đàn

Trong một lần trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo bị ái dục chi phối.

Đức Thế Tôn nói:

- Này Tỳ-kheo, nghe nói thầy bị ái dục chi phối, có thật như vậy không?

- Bạch Thế Tôn, thật có như vậy. Thầy này trả lời.

- Này Tỳ-kheo, nữ nhân không thể nào canh giữ được. Vào đời quá khứ, có kẻ đầy mưu trí đã canh giữ một nữ nhân từ khi người này mới chào đời, nhưng tuy thế vẫn không thể nào giữ nỗi.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì thành Ba-la-nại (Benares), bấy giờ Bồ-tát thọ sanh làm con trai của bà Chánh phi. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài thông suốt các ngành học thuật. Rồi đến khi phụ vương băng hà, ngài lên ngôi vua và tỏ ra là một vị minh quân. Bấy giờ, ngài thường chơi súc sắc với vị tư tế của mình, và mỗi khi ném con súc sắc bằng vàng lên trên cái bàn bằng bạc, ngài thường ngâm lên khúc ca cầu may này:

Định luật của tạo hoá:

Sông suối thì uốn quanh

Cây cối mọc thành rừng

Còn tất cả nữ nhân

Phạm những điều bất chính

Khi cơ hội tựu thành.

Nhờ bài ca này, nhà vua luôn chiến thắng trong các cuộc chơi. Và theo đúng luật chơi, vị tư tế đã thua sạch không còn dính một cắc bạc nào. Để cứu vãn sự phá sản, vị tư tế quyết định tìm một cô gái nhỏ chưa bao giờ nhìn thấy nam nhân, đem về nhốt trong nhà và khoá chặt cửa. Ông nghĩ: Ta không thể nuôi một cô gái đã nhìn thấy nam nhân. Ta phải nuôi một bé gái sơ sinh, giữ chặt cho đến khi nó trưởng thành, canh giữ nó cẩn mật để không người nào có thể đến gần nó, và như vậy nó chỉ trung thành với một người đàn ông duy nhất. Bằng cách này ta sẽ thắng nhà vua và trở thành giàu có.

Bấy giờ, vị tư tế này rất thành thạo trong việc tiên đoán. Khi nhìn thấy một phụ nữ sắp sinh con, biết rằng con của người này là một bé gái, ông bèn trả tiền để đem người này về và giữ kỷ ở trong nhà, và đến khi người này sinh nở xong thì liền cho tiền và bảo đi. Hài nhi này hoàn toàn do các phụ nữ nuôi dưỡng, và không có một người đàn ông nào ngoài vị tư tế được phép nhìn cô bé này. Khi cô bé khôn lớn, cô thuộc về vị tư tế - ông chủ của cô.

Bấy giờ, khi cô gái đang còn trong giai đoạn trưởng thành, vị tư tế tránh không chơi súc sắc với nhà vua. Nhưng khi cô gái đã khôn lớn và nằm dưới sự kiểm soát của mình, vị tư tế lại thách thức thi đấu với nhà vua. Nhà vua chấp nhận và bắt đầu chơi. Nhưng khi nhà vua ném con súc sắc xuống và hát lên khúc ca may mắn của mình thì vị tư tế thêm vào:Nhưng cô gái của hạ thần luôn là ngoại lệ. Và như thế vận may đã thay đổi, lúc này vị tư tế là người chiến thắng còn nhà vua bị thua cuộc.

Suy xét vấn đề, Bồ-tát nghi vị tư tế có giữ một cô gái tiết hạnh ở trong nhà. Rồi ngài dò hỏi và biết mối nghi của mình là đúng sự thật. Và để làm cho cô gái sa ngã, nhà vua cho gọi một gã trai đểu cáng khôn lanh đến và hỏi gã là gã có thể quyến rũ được cô gái kia hay không. Gã trả lời gã có thể làm được. Vì thế nhà vua cho gã tiền và bảo gã đi thực thi mệnh lệnh không được chậm trể.

Với tiền nhà vua cho, gã này mua nước hoa, dầu thơm và các hương liệu khác, rồi mở một cửa hiệu nước hoa gần nơi nhà vị tư tế. Bấy giờ, nhà vị tư tế có bảy tầng lầu, và bảy tầng lầu có bảy cánh cổng. Mỗi cổng đều có người canh giữ - người canh giữ toàn là nữ nhân. Không người đàn ông nào được phép vào nhà ngoại trừ vị Bà-la-môn. Ngay cả những giỏ rác cũng được khám xét kỷ lưỡng trước khi mang vào hoặc mang ra khỏi nhà. Chỉ một mình vị tư tế được phép nhìn cô gái, và cô gái chỉ có một nữ tỳ duy nhất. Nữ tỳ này được giao tiền đi mua hoa và nước hoa cho cô chủ. Trên đường đi, bà ta thường đi ngang qua cửa hiệu mà gã đểu cáng kia mới mở. Và gã này, biết rõ rằng bà ta là người hầu của cô gái kia, nên đợi một ngày nọ, khi thấy bà ta đi đến gần, đã chạy lao ra khỏi cửa hiệu rồi quỳ xuống nơi chân bà, ôm chặt lấy gồi bà và khóc oà lên:

- Ôi mẹ ơi! Lâu nay mẹ ở nơi đâu?

Còn nhưng kẻ đồng bọn đứng bên cạnh gã thì kêu lên:

- Ôi, thật giống như tạc! Tay chân, mặt mày, hình dáng, và ngay cả cách ăn mặc cũng đều giống hệt nhau.

Trong khi mọi người cứ luôn miệng nói về sự giống nhau kỳ lạ này, người đàn bà khốn khổ mất hết cả tâm trí. Bà oà khóc và nói rằng đây chính là con trai của bà. Rồi với nước mắt ràn rụa, hai người ôm chầm lấy nhau. Sau đó gã đểu cáng hỏi:

- Thưa mẹ, hiện giờ mẹ đang sống ở đâu?

- Con trai ạ, mẹ đang sống trong nhà vị tư tế. Ông ấy có một cô vợ trẻ xinh đẹp tuyệt trần, xinh đẹp như tiên trên trời vậy. Và mẹ chính là người hầu của cô ấy.

- Thưa mẹ, thế bây giờ mẹ đi đâu?

- Đi mua hoa và nước hoa cho cô ấy.

- Sao mẹ lại đi chỗ khác mua? Từ nay trở đi mẹ cứ đến đây mua?

Nói vậy xong, gã trao cho bà già cau trầu, nước hoa và đủ các thứ hoa mà không nhận tiền. Thích thú về phẩm chất của nước hoa và hoa tươi mà người nữ tỳ mang về, cô gái hỏi tại sao vị tư tế Bà-la-môn hôm nay lại sẵn lòng với cô đến thế. Bà già nói:

- Này con, sao con lại hỏi như vậy?

- Vì chất lượng của những thứ vú đem về nhà đấy.

- Ồ không, không phải tư tế Bà-la-môn cho nhiều tiền đâu, mà những thứ này do vú lấy của con trai vú đấy.

Từ hôm đó, bà già cất giữ số tiền mà vị tư tế Bà-la-môn đưa, rồi đi đến lấy hoa cùng những thứ khác tại cửa tiệm của gã trai kia mà không cần phải trả tiền.

Sau một vài ngày, gã trai này giả vờ bị bệnh và nằm ở trên giường. Thế rồi khi bà lão đến cửa hiệu và hỏi thăm con trai bà thì được báo rằng gã ta bị bệnh. Nghe thế, bà già đến gần bên gã, âu yếm vuốt ve đôi vai của gã và hỏi gã bị bệnh gì. Nhưng gã không trả lời.

- Con trai, sao con im lặng mà không nói cho mẹ biết?

- Thưa mẹ, dù con có chết cũng không thể nói với mẹ được.

- Nhưng nếu con không nói với mẹ thì sẽ nói với ai đây?

- Vậy thì thưa mẹ, nghe mẹ khen ngợi sắc đẹp của tiểu thư, con sinh lòng tương tư nên mới đổ bệnh thế này. Nếu con có được cô ấy thì con mới sống nỗi, còn không thì chắc con phải nằm chết trên giường này vậy.

- Con trai ạ, cứ để việc đó cho mẹ. Con đừng ưu phiền gì về việc này cả. Bà già nói một cách vui vẻ.

Sau đó, bà già đem về nhà cho cô gái một gánh đầy hoa tươi và nước hoa, rồi bà nói với cô thiếp trẻ của vị tư tế Bà-la-môn:

- Trời ơi, con trai vú phát bệnh vì sinh lòng thương yêu con, nguyên nhân do vú nói với nó con đẹp tuyệt trần! Vú phải làm gì đây?

- Nếu vú lén đem được chàng vào đây thì con cho phép vú đấy. Cô gái nói.

Ngay sau đó, bà già bắt đầu quét gom tất cả rác rưởi trong nhà từ tầng lầu trên cùng cho đến tầng trệt. Rồi bà cho tất cả rác này vào trong một cái giỏ đựng hoa to tướng và tìm cách đưa cái giỏ này ra ngoài. Khi người ta như thường lệ lục soát bà, bà ta đổ cả giỏ rác lên người phụ nữ canh gác, và cách cư xử thô lỗ đó đã khiến cho người gác cổng phải bỏ chạy. Bằng hình thức đó, bà ta lần lượt cư xử với tất cả những người canh gác khác, làm cho họ ngạt thở và vì thế họ đã nói bà đủ điều. Và thế là từ hôm đó, dù bà già có mang vào hay mang ra thứ gì đi nữa thì cũng không có một người nào dám lục soát bà. Thời cơ đã đến! Bà già cho gã đểu cáng kia nằm vào trong giỏ hoa và lén đem gã vào nhà, rồi đưa gã đến với cô chủ trẻ của mình. Gã trai này như vậy đã thành công trong việc phá hỏng tiết hạnh của cô gái, và gã thậm chí còn ở lại một vài ngày trong những căn phòng trên lầu. Mỗi khi vị tư tế ở nhà thì gã ẩn trốn đi, còn khi vị tư tế đi vắng gã lại trăng hoa với cô chủ trẻ. Sau một vài ngày, cô gái nói với tình nhân của mình:

- Hỡi người tình của em, đã đến lúc chàng phải rời khỏi đây rồi.

- Được thôi, nhưng trước khi đi ta phải đánh lão Bà-la-môn đã.

- Vậy chàng cứ làm. Cô gái nói.

Thế rồi gã trai đểu cáng ẩn nấp đi. Sau đó, khi vị tư tế Bà-la-môn trở về nhà, cô gái nói:

- Ôi lang quân, thiếp rất muốn được nhảy múa, giá mà chàng đánh đàn cho thiếp.

- Ái nương, vậy nàng hãy nhảy múa đi.

Vị tư tế nói và bắt đầu đánh đàn.

- Nhưng thiếp thật e thẹn nếu chàng nhìn thiếp. Hãy cho thiếp lấy một mảnh vải trùm che khuôn mặt tuấn tú của chàng trước đã, rồi sau đó thiếp mới dám nhảy múa.

- Được rồi, nếu nàng rụt rè không dám múa thì hãy làm như vậy.

Thế rồi cô gái lấy một mảnh vải dày và bao chặt lấy mặt của vị Bà-la-môn để bịt mắt ông ta. Và vị Bà-la-môn bắt đầu đánh đàn khi đã bị bịt mắt. Sau khi nhảy múa được một lúc, cô gái kêu lên:

- Lang quân, thiếp muốn đánh vào đầu chàng một cái.

- Vậy thiếp hãy đánh đi. Lão già lẩm cẩm cả tin nói.

Thế rồi cô gái ra hiệu cho gã nhân tình của mình, và gã này nhẹ nhàng lẻn ra phía sau lưng vị Bà-la-môn và đánh mạnh vào đầu lão một cái. Sức mạnh của cú đánh đã làm cho mắt vị Bà-la-môn muốn rơi ra khỏi đầu, và nơi chỗ bị đánh sưng lên một cục. Đau điếng vô cùng, lão gọi cô gái đến và bảo đưa tay cho lão xem. Cô gái đặt tay mình vào tay lão. Lão nói:

- Ôi, bàn tay thật mềm mại, nhưng sao lại đánh mạnh đến thế!

Bấy giờ, khi đánh vị Bà-la-môn xong, gã trai đểu cáng kia đã ẩn trốn đi. Và khi gã ẩn trốn đi rồi, cô gái liền tháo dãi vải ra khỏi mắt vị tư tế và lấy dầu xoa lên cái đầu bị bầm tím của lão. Rồi khi vị Bà-la-môn đi vắng, bà tỳ nữ đã đặt gã trai đểu cáng kia vào trong giỏ và lại lén đưa ra khỏi nhà. Gã này lập tức đến yết kiến nhà vua và nói cho ngài biết toàn bộ việc làm mạo hiểm của mình.

Do đó khi lần kế tiếp vị Bà-la-môn đến, nhà vua đã đề nghị chơi súc sắc. Vị Bà-la-môn đồng ý và vì thế bàn chơi súc sắc được mang ra. Khi nhà vua ném con súc sắc, ngài đã hát lên bài ca trước đây của mình. Và vị Bà-la-môn, vì không biết sự hư hỏng của cô gai kia nên đã nói thêm vào: Nhưng cô gái của hạ thần luôn là ngoại lệ. Tuy thế lão lại thua cuộc!

Nhà vua vì biết rõ vấn đề nên đã nói với vị tư tế:

- Sao cô gái kia là ngoại lệ? Cô ta đã mất hết tiết hạnh rồi. Ôi, khanh tưởng rằng đem một cô gái vừa mới lọt lòng và canh giữ cô ta trong bảy lớp cửa là có thể giữ được cô ta sao. Khanh không thể giữ được một người phụ nữ, cho dù khanh giữ cô ta trong nhà và quanh quẩn suốt ngày với cô ta. Không có nữ nhân nào chung thủy với một người đàn ông cả. Giống như cô gái của khanh, cô ta nói với khanh là cô ta muốn nhảy múa, và trước tiên phải bịt mắt khanh khi khanh chơi đàn cho cô ta. Thế rồi cô ta đã để cho gã tình nhân của mình đánh vào đầu của khanh và sau đó lẻn đưa gã này ra khỏi nhà. Thế thì sự ngoại lệ của khanh nằm ở đâu?

Nói vậy xong, nhà vua đọc lên bài kệ này.

Bịt mắt để chơi đàn

Bị vợ lừa không biết

Bà-la-môn ngồi đó

Nuôi dưỡng gái trinh tiết

Học hỏi từ nơi đây

Ái dục thật khủng khiếp.

Bằng cách như vậy, Bồ-tát đã thuyết pháp cho vị Bà-la-môn. Sau đó vị Bà-la-môn trở về nhà và hảch hỏi cô nàng về cái tội hư hỏng đã bị tố cáo. Cô nàng nói:

- Thưa lang quân, người nào đã gán ghép điều như vậy cho thiếp? Thiếp thật sự vô tôi. Đó thật sự là bàn tay của thiếp, không phải một bàn tay nào khác đánh chàng cả. Nếu chàng không tin thiếp thì thiếp xin đem thân này ra thử lửa để chứng minh rằng không có bàn tay của người đàn ông nào đụng chạm đến thiếp ngoại trừ bàn tay của chàng, có như vậy mới làm cho chàng tin thiếp được.

- Vậy thì hãy thực hiện đi. Vị Bà-la-môn nói.

Nói rồi ông cho mang đến một đống củi và châm lửa. Sau đó gọi cô nàng đến, ông nói:

- Nếu cô tin việc làm của mình thì hãy nhảy vào ngọn lửa này.

Trước đó, cô nàng này đã dặn bảo bà lão nữ tỳ của mình thế này:

- Thưa mẹ, mẹ hãy bảo con trai của mẹ đến đây và nắm lấy tay con khi con sắp nhảy vào lửa nhé.

Bà già đã làm theo lời chỉ bảo, và gã trai đểu cáng kia đã đến và đứng sẵn trong đám đông tụ tập. Sau đó, để đánh lừa vị Bà-la-môn, cô nàng kia đứng trước tất cả mọi người và sôi nổi thề thốt:

- Thưa Bà-la-môn, không có bàn tay đàn ông nào khác ngoài chàng đụng chạm vào thân thiếp. Bằng sự chân thật của lời xác quyết này, thiếp mong ngọn lửa này sẽ không làm hại đến thiếp.

Nói vậy xong, cô nàng tiến đến ngọn lửa đang bốc cháy. Vừa khi ấy, gã tình nhân lao tới nắm lấy tay cô ta, nói rằng cảm thấy xấu hổ khi vị Bà-la-môn đã buộc một cô gái đoan chính nhảy vào trong lửa! Giật tay của mình ra, cô nàng nói với vị Bà-la-môn rằng những gì cô ta xác quyết trước đây đã bị làm hỏng, và vì thế bây giờ cô ta không thể đương đầu với ngọn lửa được. Lão Bà-la-môn nói:

- Tại sao không? Bà-la-môn hỏi.

- Bởi vì lời thề của thiếp là không có bàn tay của người đàn ông nào khác ngoài chàng xúc chạm vào thiếp, thế nhưng giờ đây người đàn ông này đã nắm lấy tay thiếp!

Nghe thế, lão Bà-la-môn biết rằng mình bị lừa, bèn đánh cô ta và đuổi ra khỏi nhà.

Chúng ta biết đấy, nữ nhân thì luôn hư hỏng như vậy. Không có tội lỗi nào mà họ không dám làm, và sau khi đã phạm tội rồi, để lừa dối chồng của họ thì không có điều gì là họ không thề thốt. Ngay giữa ban ngày mà họ cũng không từ! Họ giối trá như vậy đấy! Do vậy người ta mới nói:

Nữ nhân bao gồm đủ

Tàn tệ và giối gian

Không biết, không hiểu được

Như cá lội dọc ngang

Nữ nhân luôn xảo trá

Biến điều giả thành chân

Như loài bò tham muốn

Tìm cỏ mới đồng xanh.

Nữ nhân không thỏa mãn

Luôn muốn đổi tình lang

Như cát luôn dịch chuyển

Độc hại như hổ mang

Nữ nhân biết mọi thứ

Không chi dấu các nàng!

Đức Thế Tôn nói:

- Thật không làm sao canh giữ được nữ nhân.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo bị ái dục chi phối chứng được quả Dự-lưu. Sau đó đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ giữa hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó ta chính là vua xứ Ba-la-nại.

Chuyện số 63: CHUYỆN CHÀ LÀ HIỀN NHÂN (Tiền thân Takka)

Sân hận, vu khống và vong ân

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jatavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo bị ái dục chi phối. Đức Thế Tôn hỏi:

- Này Tỳ-kheo, có thật là thầy bị ái dục chi phối không?

- Bạch Thế Tôn, thật có như thế. Thầy này trả lời.

Đức Thế Tôn nói:

- Này Tỳ-kheo, nữ nhân thì vong ân và gian dối, vậy tại sao thầy lại để dục tham chi phối chỉ vì họ.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì thành Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát xuất gia làm vị tiên nhân. Dựng thảo am bên bờ sông Hằng, ở đấy Bồ-tát tu tập, chứng đắc được các bậc Thiền cùng Thắng trí, và ngài an trú trong hỷ lạc thiền định. Bấy giờ, Vị quan Tài vụ của thành Ba-la-nại có một cô con gái rất hung dữ và thô bạo, được mệnh danh là Ác nữ. Cô ta luôn miệng chửi rủa và thẳng tay đánh đập những gia nhân và nô tỳ của mình.

Một hôm, những gia nhân đưa tiểu thư của mình đến sông Hằng để vui chơi giải trí. Khi những cô gái đang vui đùa ở trong nước thì hoàng hôn buông phủ và một cơn giông bảo lớn ập xuống họ. Vì thế, mọi người vội vã tháo chạy, còn những người hầu của cô tiểu thư này thì nói lớn: Đây là dịp để chúng ta trừ khử đi ác nữ này! Thế là họ ném thẳng cô ta vào sông và vội vã ra về. Mưa đổ như trút nước, hoàng hôn buông xuống và bống đêm bắt đầu bao phủ.

 Khi thấy các nô tỳ trở về mà không có tiểu thư này về cùng, người nhà của cô ta hỏi cô ta ở đâu. Những nô tỳ trả lời rằng cô ta đã lên khỏi sông nhưng họ không biết cô ta đi đâu cả. Gia đình cô ta đi tìm kiếm khắp nơi nhưng không lần ra được dấu vết của cô gái mất tích này.

Trong lúc ấy, cô gài này bị dòng nước lũ cuốn trôi nên đã kêu gào thảm thiết, và vào lúc nửa đêm thì trôi đến ngôi thảo am mà Bồ-tát trú ngụ. Nghe thấy tiếng kêu gào, Bồ-tát nghĩ: Có tiếng kêu gào của nữ nhân. Ta phải cứu người này ra khỏi dòng nước mới được. Vì thế ngài đốt một ngọn đuốc bằng cỏ, và nhờ ánh sáng của nó đã nhìn thấy cô ta ở trong dòng nước.

- Xin đừng sợ! Xin đừng sợ!

Bồ-tát vui mừng kêu to lên và bước xuống nước. Bằng sức mạnh phi thường như tượng vương, Bồ-tát đã đưa cô ta an toàn lên bờ. Sau đó ngài đốt một bếp lửa ở trong thảo am để cho cô ta sưởi và mang những trái cây thơm ngọt đủ loại đến cho cô ta ăn. Đợi cho cô ta ăn xong, Bồ-tát hỏi:

- Nhà cô ở đâu? Tại sao lại để rơi xuống sông?

Cô ta kể cho Bồ-tát nghe tất cả những gì đã xảy ra. Bồ-tát nói:

- Vậy cô cứ tạm thời ở đây.

Rồi ngài để cô ta ở trong thảo am, còn mình hai ba ngày liền sống ở ngoài trời. Sau đó ngài bảo cô gái hãy ra đi, nhưng cô gái vẫn tiếp tục nấn ná mãi, dầu đến khi đã làm cho vị tiên nhân mê đắm mình rồi cũng không chịu đi. Thời gian dần trôi, bằng nhan sắc mỹ miều và mưu mẹo của mình, cô ta đã làm cho vị tiên nhân mất hết định lực. Và như thế vị tiên nhân đã cùng với cô ta tiếp tục sống ở trong rừng. Nhưng cô ta không muốn sống nơi hiu quạnh này mà muốn được đưa về sống nơi có dân chúng. Thế là chìu theo sự nài nỉ của cô ta, vị tiên nhân đã đưa cô ta về sống tại một ngôi lại ở gần biên rừng. Ở đấy, ngài bán trái chà là để nuôi sống cô ta, và vì thế được gọi là Chà Là Hiền Nhân. Dân làng trả tiền cho ngài để ngài dạy cho họ biết về những mùa vụ tốt xấu, và dựng cho ngài một cái lều tranh tại nơi cổng làng để ngài cư trú.

Bấy giờ, những tên cướp ở núi thường xuống vùng biên địa để cướp phá. Và một hôm, chúng đã đột kích cướp phá ngôi làng mà hai người này đang sống. Chúng bắt dân làng khốn khổ thu gom tài sản lại cho chúng rồi ra đi, mang theo cô con gái của vị quan tài vụ và những người khác về hang ổ của chúng. Đến nơi, chúng thả những người kia ra, còn cô gái này do vì xinh đẹp nên đã bị bắt làm vợ cho tên tướng cướp.

Khi Bồ-tát biết được sự việc, ngài nghĩ: Nàng ấy sẽ không chịu sống xa ta đâu. Rồi nàng sẽ trốn thoát và trở về với ta thôi. Vì thế ngài tiếp tục sống như vậy và chờ đợi cô ta quay trở về. Trong khi đó cô nàng này lại sống rất hạnh phúc bên những tên cướp, và chỉ lo sợ là Chà Là Hiền Nhân sẽ đến đưa cô ta về lại. Cô ta nghĩ: Nếu anh ta chết đi thì ta sẽ an tâm hơn. Vậy ta sẽ nhắn tin cho anh ta, giả vờ yêu thương để dụ anh ta đến đây chịu chết. Thế rồi cô ta sai một người đến báo tin với Bồ-tát là cô ta đang đau khổ bất hạnh, và rằng cô ta muốn ngài đến đưa cô ta trốn đi.

Tin lời cô ta, Bồ-tát lên đường ra đi. Đến cổng làng của những tên cướp, Bồ-tát nhắn tin cho cô ta. Cô ta nói:

- Chàng ơi, bây giờ mà trốn đi thì chỉ có rơi vào tay của tên tướng cướp và như vậy nó sẽ giết cả hai chúng ta. Vậy chúng ta hãy đợi đến đêm tối rồi hẳn trốn.

 Thế rồi cô ta đem ngài dấu trong một căn phòng. Và khi tên tướng cướp đến đêm trở về nhà phừng phừng với men rượu, cô ta đã nói với hắn:

- Chàng ơi, chàng sẽ làm gì nếu tình địch ở trong tay chàng?

Tên cướp trả lời rằng hắn sẽ làm thế này thế kia.

Nghe thế cô ta nói:

- Có lẽ kẻ đó không ở xa như chàng tưởng đâu. Nó đang ở trong căn phòng kế đây đấy.

Nắm lấy cây đuốc, tên cướp lao vào và túm lấy Bồ-tát, rồi y đánh đấm túi bụi lên đầu, lên thân ngài cho hả giận. Giữa những trận đòn như vậy, Bồ-tát không hề kêu khóc mà chỉ khẽ trách:

- Ôi, kẻ vong ân bội nghĩa! Kẻ vu oan giáng họa!

Và ngài chỉ nói như vậy.

Sau khi đánh đập và trói chân Bồ-tát lại, tên tướng cướp ăn uống và đi ngủ. Vào buổi sáng, sau khi ngủ suốt đêm với cơn say tuý luý, tên cướp thức dậy và lại đánh đập Bồ-tát. Bồ-tát cũng không kêu khóc gì mà chỉ lập lại mấy lời trên. Nghe như thế, tên cướp lấy làm ngạc nhiên và hỏi Bồ-tát lý do tại sao khi bị đánh đã nói những lời đó. Chà Là Hiền Nhân nói:

- Hãy nghe, rồi ông sẽ hiểu rõ. Trước đây, tôi là một vị ẩn sĩ sống trong một khu rừng hiu quạnh, và ở đấy tôi đã đạt được thiền định. Và rồi tôi đã cứu cô nàng này ra khỏi sông Hằng và giúp cho cô ta đủ mọi nhu cầu, nhưng cô ta đã cám dỗ và khiến tôi mất hết định lực. Sau đó tôi phải rời bỏ núi rừng, đưa cô ta về làng để nuôi dưỡng, và ở đó cô ta đã bị những tên cướp mang đi. Rồi cô ta nhắn tin rằng cô ta bất hạnh khổ đau, nài xin tôi đến đưa đi, và giờ đây lại giao tôi vào tay ông. Đó là lý do tại sao tôi đã nói như vậy.

Nghe như thế, tên cướp bắt đầu suy nghĩ lại: Nếu nó không yêu thương một người quá tốt, đã từng giúp đở cho nó nhiều như vậy, thì đối với ta làm gì nó lại thương yêu? Nó phải chết. Rồi sau khi an ủi Bồ-tát, tên cướp đánh thức người đàn bà kia dậy. Cầm kiếm trong tay, y giả vờ nói rằng y dự định giết chết Bồ-tát ở bên ngoài làng. Rồi bảo cô ta giữ lấy Chà Là Hiền Nhân, y rút gươm ra, và làm như thể sẽ giết vị hiền nhân, y đã chặt cô ta ra làm hai. Sau đó y tắm rửa cho Chà Là Hiền Nhân từ đầu đến chân và cho ngài dùng thỏa thích các loại mỹ vị trong nhiều ngày liền. Rồi tên cướp hỏi:

- Bây giờ ngài định đi đâu?

Vị hiền nhân đáp:

- Cuộc đời này đối với tôi không có gì vui thú. Tôi sẽ xuất gia làm ẩn sĩ trở lại như xưa và sống tại thảo am cũ trong rừng.

- Vậy tôi cũng sẽ xuất gia làm ẩn sĩ. Tên cướp nói.

Thế rồi hai người cùng xuất gia làm ẩn sĩ và sống tại am thất ở trong rừng. Ở đó họ đạt được các Thắng trí và Thiền định, rồi đến khi qua đời đã sanh về thế giới Phạm thiên.

* * *

Sau khi kể xong hai câu chuyện, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của chúng bằng cách đọc lên bài kệ này:

Sân hận, vu khống và vong ân

Gieo mầm chia rẽ, hàng nữ nhân!

Tỳ-kheo, vậy hãy tu phạm hạnh

Cực lạc tìm thấy không nhọc thân.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo bị ái dục chi phối chứng được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, A-nan là tên tướng cướp, còn ta chính là Chà Là Hiền Nhân.

Chuyện số 64: CHUYỆN KHÓ HIỂU (Tiền thân Durājāna)

Phụ nữ yêu ư? Chớ mừng vui

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một nam cư sĩ. Chuyện kể rằng, có một nam cư sĩ sống ở thành Xá-vệ đã quy y Tam bảo và thọ trì Ngũ giới, là người đệ tử thuần thành của Phật, Pháp và Tăng. Nhưng vợ của chàng là một phụ nữ xấu xa độc ác. Mỗi khi làm gì sai trái, cô ta thường tỏ ra nhu mì như là một nữ tỳ được mua với giá một trăm đồng tiền vàng. Còn khi không phạm lỗi gì, cô ta lại xử sự như một bà chủ nống giận và chuyên quyền. Người chồng không thể nào hiểu nỗi cô ta. Cô ta cứ quấy rầy người chồng mãi đến độ vị này không thể đến hầu cận đức Phật được.

Một hôm, vị này mang theo hoa tươi và dầu thơm đến chỗ đức Thế Tôn, sau đó đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Khi ấy đức Thế Tôn hỏi:

- Này cư sĩ, có chuyện gì mà bảy tám ngày nay không thấy cư sĩ đến hầu cận Như Lai?

- Bạch Thế Tôn, vợ của con có ngày thì nhu mì như một nô tỳ được mua với giá một trăm đồng tiền vàng, còn có ngày thì xử sự như một bà chủ nống giận và chuyên quyền. Con không thể nào hiểu nổi cô ta. Và chính vì bị cô ta làm buồn phiền mà con đã không đến hầu cận đức Thế Tôn được.

Khi nghe thưa như vậy, đức Thế Tôn nói:

-  Này cư sĩ, vào đời quá khứ, ông đã được bậc hiền trí nói cho biết rằng thật khó hiểu được bản tính của nữ nhân, nhưng ông không còn nhớ được là do vì tâm trí đã bị rối mờ bởi phải trải qua các kiếp tái sanh.

Nói vậy xong, ngài kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì thành Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát làm một vị giáo sư nỗi danh thế gian, với năm trăm thanh niên Bà-la-môn theo học. Trong số đó có một thanh niên ở nước khác đến, chàng trai đã yêu một cô gái và lấy cô ta làm vợ. Mặc dù vẫn còn sống ở Ba-la-nại nhưng trong hai ba ngày liền chàng không đến hầu cận tôn sư của mình. Lý do vì vợ của chàng là một nữ nhân xấu xa độc ác, hễ ngày nào làm điều sai trái thì cô ta ra vẻ nhu mì, còn ngày nào không phạm lỗi gì thì cô ta xử sự như một bà chủ nống giận và chuyên quyền. Người chồng không thể nào hiểu nổi cô ta. Bởi quá buồn phiền và khổ sở vì cô vợ nên chàng đã không đến hầu cận tôn sư của mình được. Bấy giờ, bảy tám ngày sau, chàng trai mới đến được, và khi Bồ-tát hỏi tại sao lâu nay vắng mặt thì chàng trai đáp:

- Thưa sư trưởng, tại do vợ của con.

Rồi chàng trai kể cho Bồ-tát nghe, rằng cô ta lúc thì ra vẻ nhu mì như một nô tỳ, nhưng có lúc thì như một bà chủ chuyên quyền bạo ngược, chàng thật không thể nào hiểu nỗi cô ta. Và vì quá buồn phiền khổ sở bởi tính khí thất thường của cô nên chàng đã không đến được.

Bồ-tát nói:

- Này thanh niên Bà-la-môn, hoàn toàn đúng như vậy. Phụ nữ mỗi khi làm gì sai trái họ thường tỏ ra nhu mì và ngoan hiền như một nàng hầu trước mặt các đấng lang quân, nhưng mỗi khi không phạm lỗi lầm gì thì họ lại bướng bỉnh ương ngạnh đối với các ông chồng. Phụ nữ xấu xa và độc ác như vậy đấy, thật khó hiểu được tính khí của họ. Vậy đừng để ý đến những sự yêu ghét của họ làm gì.

Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này để soi sáng cho đệ tử của mình:

Phụ nữ yêu ư? Chớ mừng vui!

Ghét ư? Bình tĩnh chớ âu sầu

Như đàn cá lội trong dòng nước

Không thể hiểu nổi nữ nhân đâu.

Đây là lời chỉ giáo của Bồ-tát dành cho đệ tử của mình, và vị đệ tử từ đó không để ý đến tính khi thất thường của vợ mình nữa. Còn cô vợ, khi nghe hành vi yếu kém của mình đã đến tai Bồ-tát, từ đó trở đi bỏ đi thói hư tật xấu ấy.

* * *

Ở câu chuyện hiện tại, vợ của nam cư sĩ này khi nghe đức Phật Toàn Giác biết được hành vi kém cõi của mình, từ đó trở đi không còn làm những việc xấu ác nữa.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn thuyết giảng Tứ Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, vị nam cư sĩ đắc được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Hai vợ chồng người này cũng chính là hai vợ chồng thời đó, còn ta chính là vị tôn sư.

Chuyện số 65: CHUYỆN ƯU NÃO (Tiền thân Anabhirati)

Như đường lộ, sông ngòi

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một nam cư sĩ như ở chuyện trước. Nam cư sĩ này khi điều tra, biết rõ những việc làm sai quấy của vợ mình, bèn có lời qua tiếng lại với cô ta và kết quả là quá buồn phiền đến độ bảy tám ngày liền không đến hầu cận đức Thế Tôn được. Một hôm, chàng trai đi đến tinh xá, sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn xong đã ngồi xuống một bên. Rồi khi đức Thế Tôn hỏi tại sao bảy tám ngày liền chàng đã vắng mặt thì chàng trả lời:

- Bạch Thế Tôn, vợ của con có những hành vi sai quấy, và con do vì quá buồn phiền về cô ấy nên không đến hầu cận Thế Tôn được.

Đức Thế Tôn nói:

- Này cư sĩ, vào đời trước, bậc hiền trí đã bảo anh rằng không nên buồn giận về những điều hư hỏng được tìm thấy nơi nữ nhân mà hãy luôn giữ tâm bình thản. Tuy thế anh đã không nhớ được điều này bởi do phải trải qua vòng luân hồi sanh tử nên tâm trí bị che lấp.

Nói vậy xong, tùy thuận lời thỉnh cầu của nam cư sĩ này, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì thành Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát là một vị tôn sư danh tiếng lẫy lừng khắp thế gian, cũng giống như câu chuyện đã được đề cập ở trên. Một người học trò của ngài khi phát hiện ra hành vi bất chính của vợ mình, vì quá đau buồn nên mấy ngày liền không đến hầu cận tôn sư của mình. Rồi một hôm, khi tôn sư của chàng hỏi lý do tại sao chàng đã vắng mặt, chàng đã thuật lại toàn bộ sự việc. Nghe thế, vị tôn sư nói:

- Này con, không có chuyện sở hữu riêng tư trong hàng nữ nhân. Họ là của tất cả. Những người hiền trí do biết được nhược điểm của họ nên bình tĩnh mà không buồn giận họ.

Nói vậy xong, ngài đọc lên bài kệ này để khai trí cho đệ tử của mình.

Như đường lộ, sông ngòi

Quán trọ, sân, tửu điếm

Chúng dành cho mọi người

Ân cần mời họ đến

Phụ nữ là như thế

Cho nên bậc trí nhân

Không để lòng giận sân

Nhược điểm nơi phái yếu.

Đây là lời chỉ giáo mà Bồ-tát đã truyền dạy cho đệ tử của mình, và vị đệ tử này từ đó về sau không để tâm đến những gì nữ nhân làm nữa. Còn vợ của vị này, khi nghe vị tôn sư đã biết rõ tất cả về mình, cũng đã thay đổi và từ đó bỏ đi thói hư tật xấu.

* * *

Người vợ của nam cư sĩ trong câu chuyện hiện tại cũng vậy, khi nghe đức Thế Tôn đã biết rõ tất cả về mình, từ đó trở đi đã từ bỏ những thói hư tật xấu không dám phạm nữa.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, vị nam cư sĩ này đắc được qủa Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Hai vợ chồng người này cũng chính là hai vợ chồng thời ấy, còn ta chính là vị tôn sư Bà-la-môn.

Chuyện số 66: CHUYỆN HOÀNG HẬU TỪ TÂM (Tiền thân Mudulakkhana)

Trước chưa được Từ Tâm

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về vấn đề ái dục.

Tương truyền rằng, có một thiện nam tử sống ở thành Xá-vệ (Sāvatthi), khi nghe đức Thế Tôn thuyết Pháp đã phát tâm quy y Tam Bảo. Rồi sau đó vị này xuất gia sống đời phạm hành, thực hành theo Chánh đạo, tu tập thiền định và không bao giờ xao lãng trong việc trầm tư quán chiếu về đề tài thiền quán mà mình đã chọn.

Một hôm, trong khi đi khất thực ở thành Xá-vệ, thầy nhìn thấy một phụ nữ ăn bận xiêm y lộng lẫy, vì khởi niệm yêu thích nên đã ngắm nhìn cô ta bất chấp vi phạm giới luật. Bị ái dục khuấy động, thầy trở nên rũ rượi như một cây sung bị búa rìu đốn ngã. Từ hôm đó trở đi, do bị ái dục chi phối, thân cũng như tâm của thầy mất hết sinh khí hùng lực. Thầy không còn tìm thấy niềm vui trong giáo pháp, cứ để cho móng tay và râu tóc mọc dài ra như một con thú rừng, còn áo quần thì dơ bẩn hôi hám.

Một số Tỳ-kheo pháp hữu khi biết được tâm trạng bất ổn của thầy đã hỏi:

- Pháp hữu, tâm thái của pháp hữu không còn được như trước, tại làm sao vậy?

- Thưa các pháp hữu, tôi không còn thấy an lạc. Thầy này nói.

Thế rồi các Tỳ-kheo đưa thầy này đến gặp đức Thế Tôn, và ngài hỏi họ tại sao lại đưa thầy này đến đó trong khi thầy này không muốn. Họ trả lời:

- Bạch Thế Tôn, vì thầy nay không còn thấy an lạc.

- Này Tỳ-kheo, có đúng như thế không?

- Bạch Thế Tôn, đúng như thế.

- Ai đã làm cho thầy phiền muộn?

- Bạch Thế Tôn, con trên đường đi khất thực đã vi phạm giới luật khi ngắm nhìn một phụ nữ, rồi ái dục khuấy động tâm trí con, và do đó con đã sinh lòng phiền muộn.

Đức Thế Tôn nói:

- Này Tỳ-kheo, không có gì làm lạ khi thầy vi phạm giới luật bởi đã yêu thích một nữ nhân xinh đẹp hiếm có và ngắm nhìn cô ta, để rồi bị ái dục chi phối. Vào đời quá khứ, ngay cả những người đã đắc được Ngủ thông và Bát thiền, những người mà định lực đã chế ngự được dục tham, tâm trí của họ được thanh tịnh và chân của họ có thể dạo trên không, thậm chí cả các vị Bồ-tát, chỉ vì vi phạm giới luật khi ngắm nhìn một nữ nhân xinh đẹp hiếm có, đã đánh mất hết định lực, bị ái dục khuấy động và rồi dẫn đến đau khổ vô cùng. Vậy có gì phải băn khoăn khi ngọn gió lớn có thể làm đổ nhào ngọn núi Tu-di lại đi làm đổ sập gò đất trọc không lớn hơn một con voi; có gì phải nghĩ ngợi khi ngọn gió lớn có thể nhổ bật gốc cây Hồng táo to lớn lại cuốn đi bụi cỏ bám nơi vách đá; và có gì phải lo nghĩ khi ngọn gió có thể quét cạn đại dương lại đi thổi cạn nước trong hồ nhỏ. Nếu dục ái có thể làm cho những vị Bồ-tát tâm đã thanh tịnh và giác ngộ trở nên cuồng mê thì chẳng lẽ nó lại chùn bước trước thầy? Thầy phải thấy, ngay cả những người thanh tịnh cũng bị ái dục dẫn đi lạc lối và ngay những người đã đạt đến vinh quang cao tột cũng phải chịu hổ nhục ê chề.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì thành Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình Bà-la-môn giàu có ở vương quốc Ca-thi (Kāsi). Đến khi khôn lớn và hoàn tất việc học vấn, Bồ-tát từ bỏ mọi tham dục của cuộc đời, xuất gia sống đời ẩn sĩ, sống một mình ở vùng Tuyết sơn tĩnh mịch. Tại đấy, nhờ hoàn thành tất cả những pháp môn thiền, ngài đã đắc được Thần thông cùng Thiền định, và sống như vậy trong hỷ lạc Thiền định.

Vì thiếu muối và gia vị, nên một hôm nọ ngài đi đến Ba-la-nại, ở đấy ngài đến trú ngụ trong ngự viên của nhà vua. Ngày hôm sau, sau khi tắm rửa xong, ngài xếp chiếc y màu đỏ bằng vỏ cây mà ngài thường mặc lại, rồi khoác lên vai tấm da linh dương màu đen, buộc lại mớ tóc rồi thành một búi trên đỉnh đầu, và với chiếc đòn gánh trên vai hai đầu treo hai cái giỏ, ngài bắt đầu đi khất thực.

Khi ngài đi đến cổng hoàng cung, nhà vua trông thấy oai nghi của ngài thì lấy làm hài lòng nên truyền lệnh cho mời ngài vào. Vậy là vị ẩn sĩ được mời ngồi lên một chiếc sàng tọa vô cùng lộng lẫy và được mời dùng nhiều món ăn hảo hạng. Và khi ngài nói lời hồi hướng cám ơn xong, nhà vua đã thỉnh mời ngài lưu trú ở ngự viên. Ẩn sĩ chấp nhận lời thỉnh mời và cư ngụ ở ngự viên mười sáu năm liền - thuyết giáo cho hoàng tộc và thọ thực ở trong hoàng cung.

Một hôm nọ, nhà vua phải đến vùng biên cương để dẹp loạn. Trước khi chinh hành, ông giao nhiệm vụ cho hoàng hậu tên là Từ Tâm chăm sóc vị ẩn sĩ tiên nhân. Vì thế sau khi nhà vua đi rồi, Bồ-tát vẫn tiếp tục đến hoàng cung mỗi khi ngài muốn.

Một hồm, Hoàng hậu Từ Tâm chuẩn bị sẵn cho Bồ-tát một bữa ăn, nhưng vì do ngài đến trễ nên hoàng hậu đã vào phong tắm rửa. Sau khi tắm rửa bằng nước hoa xong, hoàng hậu ăn mặc và trang sức vô cùng lộng lẫy, rồi nằm nghỉ trên một chước giường nhỏ ở trong căn phòng lớn để chờ Bồ-tát đến.

Bồ-tát xuất thiền, nhận thấy đã trể giờ nên liền bay qua không trung để đến hoàng cung. Nghe tiếng sột soạt của chiếc y bằng vỏ cây của Bồ-tát, hoàng hậu vội vàng đứng lên để tiếp đón ngài. Trong khi vội vàng đứng lên, chiếc áo của bà đã bị tuột xuống, để rồi vẻ đẹp của bà đã phơi lộ ra trước mặt ẩn sĩ khi ngài từ cửa sổ bay vào. Thấy cảnh tưởng đó, vì yêu thích, vị ẩn sĩ đã ngắm nhìn sắc đẹp tuyệt trần của hoàng hầu bất chấp vi phạm giới luật. Dục tình nhen nhúm thiêu đốt trong tâm, ngài như thân cây bị búa rìu đốn ngã. Và như vậy, mọi định lực của ngài lập tức biến mất, và ngài trở nên như một con qụa bị cắt cụt cánh. Cầm lấy thức ăn nhưng ngài đứng đấy không ăn, sau đó ngài mang thức ăn ra về, toàn thân rung lên vì ái dục. Từ hoàng cung, ngài trở về thảo am ở trong ngự viên, đặt thức ăn xuống bên dưới chiếc giường làm bằng gỗ và nằm dài ở đấy suốt bảy ngày liền trong cơn dày vò đói khát, cộng thêm bị đoạ đày bởi vẻ yêu kiều diễm lệ của hoàng hậu. Tâm trí của ngài bị lửa ái dục thiêu đốt.

Đến ngày thứ bảy, nhà vua sau khi bình định được vùng biên cương đã quay trở về. Sau khi diễu hành quanh kinh thành trong một đám rước long trọng, nhà vua đã đi vào hoàng cung. Nóng lòng muốn gặp mặt vị đạo sĩ, nhà vua bèn đi đến ngự viên, và ở đấy ông nhìn thấy Bồ-tát nằm dài trên chiếc giường ở trong phòng. Nghĩ vị hiền nhân bị bệnh, nhà vua trước tiên đã cho dọn dẹp am thất, sau đó vỗ vào chân ẩn sĩ và hỏi ngài bị bệnh gì. Ẩn sĩ đáp:

- Thưa hoàng thượng, tâm trí tôi bị ái dục câu thúc. Đó là căn bệnh duy nhất của tôi.

- Ngài tham ái ai?

- Thưa hoàng thượng, đó là hoàng hậu Từ Tâm.

- Thế thì nàng ấy là của ngài. Trẫm sẽ cho ngài nàng ấy. Nhà vua nói.

Sau đó, nhà vua cùng với vị ẩn sĩ trở về hoàng cung, rồi ông bảo hoàng hậu trang sức cho thật lộng lẫy và đem bà trao cho Bồ-tát. Nhưng trong khi đem bà trao cho ẩn sĩ, nhà vua đã bảo riêng hoàng hậu rằng phải cố gắng hết mình để cứu thoát vị hiền nhân đó.

Hoàng hậu nói:

- Tâu hoàng thượng, xin ngài đừng lo lắng. Thiếp sẽ cứu vị hiền nhân.

Thế rồi, ẩn sĩ cùng với hoàng hậu rời khỏi hoàng cùng. Nhưng khi ngài vừa ra khỏi đại hoàng môn, hoàng hậu kêu lên rằng họ phải có một căn nhà để trú ngụ, và bảo ngài phải trở lại xin nhà vua một căn nhà. Vì thế, ngài quay trở lại để xin nhà vua một căn nhà và nhà vua đã cho họ một túp lều đổ nát mà khách qua đường dùng làm nhà vệ sinh. Ẩn sĩ đưa hoàng hậu đến túp lều, nhưng hoàng hậu thẳng thừng từ chối không bước vào, bởi vì nó quá dơ bẩn. Ẩn sĩ kêu lên:

- Vậy tôi phải làm gì đây?

- Làm gì ư? Hãy dọn dẹp cho sạch sẽ! Hoàng hậu nói.

Rồi bà bảo ẩn sĩ đến nhà vua xin một cái xẻng và một cái giỏ, sau đó bắt ngài dọn bỏ tất cả những rác rưởi dơ bẩn và đi lấy phân bò về trát lên các bức vách. Khi ẩn sĩ làm xong việc đó, hoàng hậu bảo ngài đi kiếm một cái giường, một cái ghế, một chiếc nệm, một bình nước, một chiếc ly, cứ một lần bảo ẩn sĩ đi kiếm một thứ như vậy. Kế đó, bà bảo ngài đi xách nước về và một ngàn công việc khác. Thế là ngài ra đi xách nước đổ đầy bình, sau đó xách nước tắm và lau chùi giường ngủ. Và khi ngài vừa ngồi lên giường cùng với hoàng hậu, bà nắm lấy chòm râu của ngài và kéo gần lại cho đến khi mặt sát mặt, nói:

- Ngài quên rằng ngài là một Bà-la-môn tiên nhân sao?

Nghe thế, ngài chợt tỉnh ngộ ra khoảng thời gian cuồng si vô trí của mình.

(Và ở đây cũng nên nhắc lại bài kinh bắt đầu bằng: Như vậy này các Tỳ-kheo, những chướng ngại ái dục được gọi là những ác dục vì chúng sanh khơi từ vô minh, mà cái gì sanh khởi từ vô minh sẽ tạo ra phiền não.)

Và khi đã tỉnh ngộ, ẩn sĩ nghĩ ra rằng, ái dục này mỗi khi tăng thượng mạnh lên, nó sẽ đưa ngài đến bốn ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la). Ngài nói lớn:

- Chính hôm nay ta sẽ đem người đàn bà này trả lại cho vua và bay về núi!

Thế rồi ngài đưa hoàng hậu đến trước nhà vua và nói:

- Thưa hoàng thượng, tôi không còn yêu thích hoàng hậu của ngài nữa, chỉ vì hoàng hậu mà dục ái đã bùng khởi trong lòng tôi.

Nói vậy xong, ngài đọc lên bài kệ này:

Trước chưa được Từ Tâm

Lòng chỉ mong chiếm đoạt

Khi được nhan sắc nàng

Tham ái càng tăng trưởng.

Rồi định lực đã mất của ngài lập tức trở lại với ngài. Vượt lên khỏi mặt đất và ngồi giữa không trung, ngài thuyết Pháp cho nhà vua và sau đó bay qua không trung để đến Tuyết sơn. Từ đó, ngài không bao giờ trở lại con đường thế tục nữa, mà tu tập làm tăng trưởng tâm từ bi và thực hành thiền quán không ngừng nghỉ, cho đến khi được sanh về thề giới Phạm thiên.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Kết thúc các Thánh đế, Tỳ-kheo đó chứng được quả A-la-hán. Rồi đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, Liên Hoa Sắc (Uppalavaṇṇā) là hoàng hậu Từ Tâm, còn ta chính là ẩn sĩ.

Chuyện số 67: CHUYỆN NGƯỜI PHỤ NỮ MIỀN QUÊ (Tiền thân Ucchanga)

Chồng, con dễ dàng kiếm

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một người phụ nữ miền quê.

Một lần nọ, ở nước Câu-tát-la (Kosala), có ba người đàn ông đang cày ruộng ở bên ngoài một khu rừng nọ. Cùng lúc đó, những tên cướp đang đào tẩu vào rừng sau khi cướp bốc của dân chúng. Những nạn nhân đi tìm kiếm những tên cướp, và trong nỗi vô vọng tìm kiếm họ đã đi đến nơi mà ba người đàn ông này đàng cày cuốc. Họ nói:

- Đây là những tên sơn tặc trá hình nông phu.

Rồi họ kéo cả ba tội nhân đến vua Câu-tát-la. Bấy giờ, có một phụ nữ đi đến hoàng cung, than khóc thảm thiết và cầu xin có được cái gì đó để che chở. Nghe tiếng kêu khóc, nhà vua ra lệnh cho cô ta một bộ áo quần. Nhưng cô ta từ chối, nói rằng đó không phải thứ mà cô ta muốn. Vì thế những người hầu của nhà vua trở lại tâu với hoàng thượng của họ rằng, thứ mà người phụ nữ đó muốn không phải là quần áo mà là một người chồng. Thế là nhà vua cho gọi người phụ nữ đó vào, hỏi rằng có phải cô ta thực sự muốn một tấm chồng hay không. Cô ta trả lời:

- Đúng như vậy, tâu hoàng thượng. Vì người chồng là nơi che chở thực sự của phụ nữ. Người phụ nữ nào không có chồng thì dầu có mặc xiêm y trị giá cả ngàn đồng tiền, người ấy thật sự vẫn trần trụi thân mình.

Và để cho lý lẽ này thêm vững chắc, cô ta đọc lên bài kệ sau:

Như vương quốc không vua

Như suối nguồn khô cạn

Trần trụi không bầu bạn

Hàng phụ nữ không chồng

Dầu khi anh em đông

Đủ mười người tất cả.

Hài lòng khi nghe người phụ nữ này trả lời, nhà vua liền hỏi cô có quan hệ gì với ba người ấy không. Cô nói rằng một người là chồng của mình, một người là anh và một người là con trai. Nhà vua nói:

- Ta cho cô một trong ba người này. Cô muốn chọn người nào?

Cô trả lời:

- Tâu hoàng thượng, nếu thảo dân sống, thảo dân có thể kiếm được một người chồng và có một người con khác. Nhưng bây giờ song thân của thảo dân đã khuất bóng, thảo dân không bao giờ có được một người anh khác. Vì thế tâu hoàng thượng, xin cho thảo dân người anh của thảo dân.

Rất hài lòng về người phụ nữ này, nhà vua đã thả tự do cho cả ba người. Như thế, chính người phụ nữ này là phương tiện cứu sống ba người đàn ông ra khỏi sự hiểm nguy.

Khi các Tỳ-kheo biết được sự việc này và khen ngợi cô ở trong Chánh pháp đường thì đức Thế Tôn đi vào. Tìm hiểu và biết được vấn đề họ đang bàn luận, Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu tiên người phụ nữ này đã cứu sống ba người kia thoát khỏi sự nguy hiểm thôi đâu, mà vào đời trước cô ta cũng đã cứu họ.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa. Khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì thành Ba-la-nại, có ba người đàn ông đang cày ruộng bên ngoài một khu rừng, và mọi chuyện xảy ra giống như trên.

Khi nhà vua hỏi người phụ nữ này sẽ chọn ai trong ba người này, cô nói:

- Hoàng thượng không thể cho thảo dân cả ba sao?

- Ta không thể cho cả ba được. Nhà vua nói.

- Nếu thảo dân không thể có được cả ba, vậy thì xin cho thảo dân người anh trai của mình.

- Tại sao cô không nhận chồng hay con mà lại đi nhận người anh?

- Chồng và con, thảo dân có thể dễ dàng có lại, nhưng người anh thì không bao giờ.

Nói vậy xong, cô đọc lên bài kệ này:

Chồng, con dễ dáng kiếm

Tùy ý chọn, đầy đường

Nhưng dù khổ vô vàn

Người anh, tìm đâu được?

- Cô ta nói hoàn toàn đúng.

Nhà vua nói và lấy làm hài lòng. Rồi ngài bảo đưa cả ba người ra khỏi lao tù và trao họ cho cô, cô liền đưa cả ba người trở về.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, như các thầy thấy, người phụ nữ này trước đây cũng đã từng cứu ba người đàn ông ra khỏi sự hiểm nguy.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Người phụ nữ và ba người đàn ông thuở ấy cũng chính là họ bây giờ, còn nhà vua chính là ta.

Chuyện số 68: CHUYỆN THÀNH BÀ-KÌ-ĐA (Tiền thân Sāketa)

Tâm đặt vào nơi ai

Trong khi trú tại rừng An-xà-na (Añjanavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Bà-la-môn.

chuyện kể rằng, khi đức Thế Tôn cùng với chư đệ tử đang đi vào thành Bà-kì-đa (Sāketa), một Bà-la-môn lớn tuổi sống ở thành đó đang đi ra ngoài và gặp Ngài ở cổng thành. Lão Bà-la-môn sụp xuống nơi chân đức Phật, ôm lấy mắt cá chân ngài và kêu khóc:

- Con trai, không phải bổn phận của con cái là phải chăm sóc cha mẹ khi họ tuổi già sao? Tại sao lâu nay con không cho cha mẹ gặp mặt con? Cuối cùng thì ta đã gặp được con. Con hãy đi về để cho mẹ của con cũng được gặp.

Nói vậy xong, ông đưa đức Thế Tôn về nhà. Ở đấy, đức Thế Tôn ngồi lên chỗ ngồi được chuẩn bị sẵn cho mình cùng với các đệ tử ngồi xung quanh. Sau đó, vợ của lão Bà-la-môn đi đến, bà cũng sụp xuống nơi chân đức Thế Tôn và khóc lóc:

- Con trai của ta, lâu nay con đã ở đâu? Không phải bổn phận của con cái là phải chăm sóc cha mẹ khi họ tuổi già sao?

Ngay sau đó, bà nói với con trai, con gái của mình rằng anh trai của họ đã đến, và bảo họ đến đảnh lễ đức Phật. Rồi trong niềm vui sướng, hai ông bà lão đã cúng dường rất nhiều cho đức Phật cùng các Tỳ-kheo. Sau bữa ăn, đức Thế Tôn đọc cho hai ông bà lão nghe bài kinh về tuổi già (Kinh số Sáu, phẩm Bốn, Tiểu kinh Tập kinh). Và khi Ngài kết thúc bài kinh, cả hai ông bà lão đều chứng được qủa Nhất lai. Sau đó đức Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và trở về rừng An-xà-na.

Các Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường và bàn luận về sự việc này. Họ nói rằng lão Bà-la-môn kia biết rõ rằng vua Tịnh Phạn (Suddhodana) là cha và hoàng hậu Ma-ya (Mahāmāyā) là mẹ của đức Phật, thế nhưng ông và vợ của ông đã qủa quyết rằng đức Phật là con trai của họ, và đức Thế Tôn cũng chấp nhận điều đó. Điều đó có nghĩa gì? Nghe họ bàn luận như vậy, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, hai ông bà lão đã đúng khi quả quyết rằng ta là con trai của họ.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Này các Tỳ-kheo, thuở xưa, lão Bà-la-môn này là cha của ta liên tục trong năm trăm kiếp, là cậu của ta trong năm trăm kiếp, và là ông của ta cũng trong chừng ấy số kiếp. Và trong một ngàn năm trăm kiếp liên tiếp như vậy, vợ của ông lần lượt là mẹ, là cô, là bà của ta. Và như thế trong một ngàn năm trăm kiếp, ta được Bà-la-môn này nuôi dưỡng; và trong một ngàn năm trăm kiếp, ta được nữ Bà-la-môn nuôi dưỡng.

Sau khi nói về ba ngàn kiếp sống, đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác đã đọc thêm bài kệ này:

Tâm đặt vào nơi ai

Lòng khởi sanh hoan hỷ

Người ta chưa từng gặp

Gặp mặt sanh yêu thương

Nhưng người như thế ấy

Các vị hãy nên tin.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Hai vợ chồng ông bà lão Bà-la-môn cũng là hai ông bà lão trong các kiếp trước, còn ta chính là người con.

Chuyện số 69: CHUYỆN CON RẮN PHUN NỌC ĐỘC (Tiền thân Visavanta)

Hỗ thẹn thay nọc độc

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Trưởng lão Xá-lợi-phất, bậc Tướng Quân Chánh Pháp.

Tương truyền vào một thời, Trưởng lão Xá-lợi-phất thường dùng bánh bột mà dân chúng mang đến tịnh xá cho các Tỳ-kheo. Sau khi các Tỳ-kheo ăn no, số bánh còn lại rất nhiều. Những người cúng dường nói:

- Thưa các Tôn giả, hãy nhận số bánh này cho những người đã đi vào làng.

Bấy giờ, một Tỳ-kheo trẻ đồng trú với Trưởng lão đã đi vào làng. Phần dành cho thầy này đã được nhận, nhưng thời gian đã quá trễ mà thầy vẫn chưa trở về nên phần đó được trao lại cho Trưởng lão Xá-lợi-phất. Khi Trưởng lão ăn xong phần chia đó thì thầy Tỳ-kheo trẻ trở về. Do vậy, Trưởng lão nói với thầy này về sự việc đó:

- Pháp hữu, tôi đã dùng số bánh được để dành cho thầy.

- Ôi chao! Tất cả chúng ta đều thích ăn đồ ngọt cả.

 Nghe thế, Đại Trưởng lão vô cùng bối rối. Thầy nói:

- Từ hôm này trở đi, ta nguyện sẽ không bao giờ ăn bánh ngọt nữa.

Tương truyền rằng từ hôm đó trở đi, Trưởng lão Xá-lợi-phất không bao giờ đụng đến bánh ngọt nữa! Các Tỳ-kheo biết được sự việc Trưởng lão Xá-lợi-phất từ bỏ không ăn bánh ngọt, và các thầy bàn luận việc đó trong Chánh pháp đường. Đức Thế Tôn hỏi:

- Này các Tỳ-kheo, các thầy bàn luận điều gì khi ngồi lại nơi đây?

Họ thuật sự việc với Ngài. Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, Xá-lợi-phất mỗi khi từ bỏ điều gì thì cho dù mất mạng cũng sẽ không bao giờ dùng trở lại.

Nói vậy xong, ngài kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình thầy thuốc rất thiện xảo về việc chữa trị rắn cắn. Và đến khi trưởng thành, ngài hành nghề này để sinh sống.

Bấy giờ, có một người ở miền quê bị rắn cắn, và người này được thân nhân nhanh chống đưa đến vị thầy thuốc. Bồ-tát hỏi:

- Các vị muốn tôi nặn độc ra và dùng thuốc giải độc thường dùng, hay là bắt con rắn đã cắn và bảo nó hút nọc độc ra khỏi vết thương?

- Hãy bắt con rắn đã cắn và bảo nó hút nọc độc ra.

Thế là ngài bắt con rắn về và hỏi nó:

- Có phải ngươi đã cắn người này không?

- Vâng, chính tôi cắn. Nó nói.

- Thế thì hãy hút nọc độc của ngươi ra khỏi vết thương.

- Cái gì?  Ta hút lại nọc độc mà trước đây ta đã phun ra! Ta chưa bao giờ làm như thế cả. Ta sẽ không làm đâu.

Thế rồi Bồ-tát lấy củi nhóm lên một bếp lửa và nói với con rắn:

- Hoặc là người hút nọc độc ra, hoặc là người nhảy ào bếp lửa này.

- Dù ngọn lửa này có thiêu chết thì ta cũng không hút nọc độc mà trước đây ta đã phun ra.

Nói vậy xong, con rắn đọc lên bài kệ sau:

Hỗ thẹn thay nọc độc

Trước đây đã phun ra

Giờ phải hút vào lại

Vì muốn cứu mạng ta.

Thôi ta vui lòng chết

Hơn sống nhục xấu xa.

Nói vậy xong, con rắn trườn mình vào trong lửa! Nhưng vị thầy thuốc đã chặn nó lại. Rồi ngài rút nọc độc ra bằng dược liệu và bùa chú, làm cho người ấy bình phục trở lại. Sau đó ngài truyền trao Giới pháp cho con rắn và thả nó đi, bảo nó từ đó về sau không được làm hại bất cứ một ai.

* * *

Đức Thế Tôn nói tiếp:

- Này các Tỳ-kheo, Xá-lợi-phất mỗi khi đã từ bỏ thứ gì thì dầu có mất mạng cũng không bao giờ nhận lại.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở ấy, Xá-lợi-phất là con rắn, còn ta chính là vị thầy thuốc.

Chuyện số 70: CHUYỆN HIỀN GIẢ CÁI CUỐC (Tiền thân Kuddāla)

Chiến thắng bằng chinh phục

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Trưởng lão Chất-đa-la-tượng Xá-lợi-phất (Cittahattha-Sāriputta).

Chuyện kể rằng, Trưởng lão này là một thanh niên thuộc gia đình hiền lương ở thành Xá-vệ. Một hôm, trên đường về nhà sau buổi cày xới, chàng đã rẻ vào tinh xá. Ở đấy, chàng nhận được những thức ăn ngon đầy đủ các chất béo ngọt từ bát của một vị Trưởng lão, và điều đó đã làm cho chàng nghĩ ngợi: Ta suốt ngày suốt đêm làm việc quần quật luôn tay, tuy thế vẫn không bao giờ nếm được thứ thức ăn ngon ngọt như vậy. Vậy ta hãy xuất gia làm Tỳ-kheo.

Thế rồi vị này gia nhập vào Tăng đoàn, nhưng trải qua một tháng rưỡi tinh tấn nỗ lực vẫn không đạt ngộ. Vì bị phiền não chi phối, vị này đã hoàn tục. Nhưng làm không đủ nuôi bụng, vị này xuất gia trở lại và nghiên cứu A-tỳ-đạt-ma (Thắng pháp-Abhidhamma). Theo cách như thế, vị này sáu lần xuất gia và sáu lần hoàn tục. Nhưng đến lần thứ bảy xuất gia làm Tỳ-kheo, thầy thông suốt toàn bộ bảy cuốn sách về A-ty-đạt-ma. Và nhờ tụng đọc nhiều các pháp Tỳ-kheo, trí tuệ của thầy được tăng trưởng và thầy chứng được thánh qủa A-la-hán. Bấy giờ một vài pháp hữu Tỳ-kheo chế nhạo thầy:

- Thưa pháp hữu, có thể nào tâm của pháp hữu đã chấm dứt phiền não, không còn sanh khởi như trước nữa?

Thầy trả lời:

- Thưa các pháp hữu, từ nay trở đi tôi sẽ không bao giờ trở lại đời sống tại gia nữa.

Việc thầy này chứng được thánh quả A-la-hán như thế đã được đem ra bàn luận trong Chánh pháp đường:

- Thưa các pháp hữu, Trưởng lão Chất-đà-la-tượng Xá-lợi-phất tuy có năng lực để đạt đến thánh quả A-la-hán, nhưng trưởng lão đã bảy lần từ bỏ đời sống xuất gia. Ôi, tâm tánh chưa tỏ ngộ thật là tai hại.

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi chư vị đang thảo luận điều gì. Nghe kể lại sự việc, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, tâm tánh phàm phu thì trôi nổi khó điều phục, gặp các sự vật liền sinh chấp trước. Và mỗi khi đã chấp trước thì không phải trong nháy mắt là giải thoát được. Tâm tánh như vậy được chế phục thì thật là thiện lành. Và mối khi tâm được chế phục thì nó sẽ đem lại hỷ lạc.

Tâm dao động khó chế

Theo các dục chuyển xoay

Chế tâm an lạc đến

Chế phục tâm, lành thay! (Pháp Cú 35).

Chính do bản chất khó chế phục của tâm mà đời trước chỉ vì một cái cuốc cùn, bậc hiền trí đã chấp trước vào nó và không thể từ bỏ được. Vì lòng tham, ngài đã sáu lần xuất gia và hoàn tục. Cho đến lần xuất gia thứ bảy, ngài mới đạt được thiền định và chế phục được tâm tham dục.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm vườn. Tên của ngài là Hiền Nhân Cái Cuốc. Với cái cuốc, ngài dọn sạch mảnh đất và trồng các loại rau qủa như: rau thơm, bí ngô, bầu, dưa chuột cùng các loại rau qủa khác, và ngài sống một cuộc sống nghèo khó dựa vào việc bán những thứ rau quả này. Ngoài trừ cái cuốc ra, Bồ-tát không có một thứ gì khác ở trong đời! Một hôm, Bồ-tát quyết định sẽ xuất gia. Vì thế ngài cất dấu cái cuốc đi và xuất gia làm một vị ẩn sĩ. Nhưng rồi nhớ đến cái cuốc và do lòng tham về cái cuốc cùn đó chế ngự mà ngài đã hoàn tục. Điều đó cứ diễn đi diễn lại mãi: sáu lần ngài cất dấu cái cuốc để xuất gia và cũng chính sáu lần ngài từ bỏ lời thệ nguyện của mình. Đến lần thứ bảy thì Bồ-tát nghĩ: Chỉ vì cái cuốc cùn này mà ta đã nhiều lần hoàn tục, vậy nay ta quyết ném nó vào sông lớn trước khi xuất gia trở lại. Vì thế ngài mang cái cuốc đến bờ sông, nhưng vì sợ rằng nếu nhìn thấy chỗ cái cuốc rơi xuống thì mình sẽ quay trở lại để vớt nó lên, nên ngài nhắm mắt lại, cầm lấy cây cuốc quay trên đầu ba vòng, rồi bằng sức mạnh như voi đã ném thẳng nó vào giữa sông. Sau đó ngài hân hoan hét lớn lên, tiếng hét như tiếng rống của sư tử:

- Ta đã chiến thắng! Ta đã chiến thắng!

Chính vào thời điểm ấy, vua Ba-la-nại đang trên đường trở về nhà sau khi dẹp yên một cuộc nỗi loạn ở vùng biên cương và ông đang dừng lại tắm ở chính con sông ấy. Trong trang sức vô cùng lộng lẫy huy hoàng, ông cỡi lên lưng voi và đi dọc theo bờ sông, đang đi thì nghe tiếng hét hân hoan của Bồ-tát. Vua nói:

- Người đàn ông này đang tuyên bố rằng anh ta chiến thắng. Ta muốn biết anh ta đã chiến thắng ai. Hãy đi đưa anh ta đến đây gặp ta.

Thế là Bồ-tát được đưa đến trước nhà vua. Vua hỏi:

- Này anh, ta chính là người chiến thắng. Ta vừa thắng trận và khải hoàn trở về. Còn anh hãy nói cho ta biết là đã thắng ai?

Bồ-tát nói:

- Tâu hoàng thượng, một ngàn hay một trăm ngàn chiến thắng như hoàng thượng đều vô ích nếu hoàng thượng không chiến thắng được những phiền não trong tâm mình. Chính do chiến thắng dục tham trong tâm mà tôi đã chiến thắng được các phiền não của mình.

Trong khi nói như vậy, Bồ-tát nhìn ra sông lớn, và bắng cách chú tâm quán sát đề mục nước, ngài đã chứng được Thiền. Sau đó bằng thần thông lực vừa đắc được, ngài vọt lên an trú giữa không trung và thuyết pháp cho nhà vua qua bài kệ này:

Chiến thắng bằng chinh phục

Không phải chiến thắng thật

Chiến thắng không chinh phục

Mới chiến thắng thật sự.

Khi nhà vua nghe thuyết Pháp như vậy, vô minh trong ông được soi sáng và những phiền não được đoạn tận. Ngay khi ấy, những tham muốn về vương vị không còn hiện hữu trong vua nữa, và ông quyết định xuất gia. Nhà vua hỏi Bồ-tát:

- Nay ngài định đi đâu?

- Thưa hoàng thượng, tôi sẽ đến Tuyết sơn và sống đời ẩn sĩ ở đó.

- Vậy tôi cũng sẽ trở thành một vị ẩn sĩ. Nhà vua nói.

Rồi vua cùng ra đi với Bồ-tát. Toàn bộ đạo quân, Bà-la-môn, gia trưởng và hết thảy dân chúng hội họp ở đấy cũng ra đi với vua.

Dân chúng Ba-la-nại khi nghe tin vua của họ đã cùng với đạo quân của mình đi xuất gia sau khi nghe Hiền Nhân Cái Cuốc thuyết Pháp thì nói: Chúng ta còn ở đây làm gì nữa. Và thế là khắp kinh thành rộng mười hai dặm, toàn bộ dân chúng kết thành một đoàn người mươi hai dặm, và như vậy cùng với Bồ-tát đi đến Tuyết sơn.

Bấy giờ, ngai của vua trời Đế Thích chợt nóng lên. Tìm hiểu vấn đề, Đế Thích nhận thấy rằng Hiền Nhân Cái Cuốc đang thực hiện Đại sự xuất gia. Nhận thấy số lượng hội chúng của Bồ-tát, Đế Thích nghĩ cách làm nhà cho tất cả họ. Vì thế Đế Thích cho gọi thần xây dựng của chư thiên tên là Vissakamma đến và nói:

- Hiền Nhân Cái Cuốc đang thực hiện Đại sự xuất gia, vì thế cần phải xây trú xứ cho ngài ở. Khanh hãy đi đến Tuyết sơn, và ở đó trên một vùng đất phẳng, bằng thần lực của mình, khanh hãy dựng một khu ẩn cư dài ba mươi dặm và rộng mười lăm dặm.

- Thưa thiên vương, tôi sẽ làm điều đó. Vissakamma nói.

Rồi ông ra đi và làm theo những gì được chỉ bảo. (Những gì tiếp theo chỉ là tóm tắt. Tình tiết đầy đủ sẽ được trình bày trong Tiền thân Hatthipāla, số 509.)

Vissakamma hóa hiện ra một khu am thất tại nơi ẩn cư, rồi đuổi tất cả những loài chim thú ồn ào, những loài ma quỷ đi. Và tại mỗi hướng chính, ông làm một con đường chỉ rộng vừa cho một người đi. Làm xong, Vissakamma trở lại trú xứ của mình.

Hiền Nhân Cái Cuốc cùng với hội chúng của mình đi vào Tuyết sơn, đến chỗ ẩn cư đã được Thiên chủ Đế Thích tạo ra và sở hữu am thất cùng với đồ đạc vật dụng mà Vissakamma tạo ra cho các ẩn sĩ. Trước hết, Bồ-tát tự mình xuất gia, sau đó làm lễ xuất gia cho mọi người, rồi phân chia nơi ẩn cư cho họ. Tất cả khu ẩn cư rộng ba mươi dặm đều tràn đầy người. Như vậy, họ đã từ bỏ tất cả những uy quyền có thể sánh với uy quyền của Đế Thích. Rồi sau khi thực hiện tất cả những đề mục thiền quán thích hợp, Hiền Nhân Cái Cuốc đã làm tăng trưởng  phạm hạnh và dạy cho đồ chúng phương cách tu tập thiền định. Do đó, tất cả đều đắc được các Thiền chứng và về sau đã sanh về Phạm thiên giới. Còn những người hộ trì hội chúng, về sau được sanh vào Thiên giới.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, tâm tánh mỗi khi đã bị tham ái trói buộc thì rất khó giải thoát. Khi các đối tượng của tham ái sanh khởi trong tâm thì chúng rất khó để đoạn trừ, ngay cả bậc hiền trí được kể ở trên cũng trở thành mất trí.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn thuyết giảng Tứ Thánh đế. Kết thúc các Thánh đế, một số người chứng được quả Dự lưu, một số người chứng được quả Nhất lai, một số người chứng được quả Bất lai, và một số người khác chứng được quả A-la-hán. Rồi đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, đệ tử của Phật là hội chúng ẩn sĩ, còn Ta chính là Hiền Nhân Cái Cuốc.

Chương I        Chương II       Chương III       Chương IV        Chương V    

Chương VI     Chương VII     Chương VIII     Chương IX        Chương X

Chương XI     Chương XII     Chương XIII     Chương XIV     Chương XV

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Hội PG Thảo Đường


  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp   


    Lịch sinh hoạt Phật sự

        

      Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem chi tiết lịch sinh hoạt  

      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh   


       

      Tôn ảnh Phật ngọc

       

       

         Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

      Đọc tiếp   

       

      Các trang web liên kết