CHUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

Tập 1 - Chương V -  Phẩm lợi ái

Chuyện số 41: Chuyện trưởng lão La-Sa-Già (Tiền thân Losaka)

Ương ngạnh khi được dạy…

Trong khi trú tại Tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Trưởng lão La-sa-già Đế-sa. (Losaka Tissa).

Trưởng lão La-sa-già là ai? Trưởng lão là con của một ngư phủ sống ở Câu-tát-la (Kosala), là tai ương của gia đình mình. Và khi xuất gia làm Tỳ-kheo, Trưởng lão cũng không bao giờ nhận được đồ cúng dường.

Kết thúc kiếp sống trước đó của mình, Trưởng lão thọ thai vào người vợ của một ngư phủ sống tại một ngôi làng gồm có một ngàn gia đình ở xứ Câu-tát-la. Vào ngày Trưởng lão nhập thai, cả một ngàn gia đình này mang lưới đến đánh cá ở các sống hồ nhưng không bắt được một mụn cá nào. Và vận xui như vậy từ ngày đó trở đi cứ bám lấy họ. Và cũng trước khi Trưởng lão ra đời, ngôi làng này bị lửa thiêu cháy bảy lần, và bảy lần bị vua đến khám xét trừng phạt. Thế rồi cuối cùng, toàn bộ dân làng rơi vào cảnh ngộ khốn khổ. Nghĩ rằng sự huỷ diệt và tai ương như vậy chỉ xảy ra bây giờ mà trước đây chưa hề gặp, họ kết luận rằng chắc chắn có một người nào đó trong số họ đem lại rủi ro nên quyết định chia dân làng thành hai nhóm. Họ đã làm điều này, và như thế mỗi nhóm có năm trăm gia đình. Từ đó về sau, tai ương cứ bám lấy nhóm có cha mẹ của La-sa-già, trong khi nhóm năm trăm gia đình kia thì thịnh vượng. Vì thế, nhóm gặp rủi ro quyết định chia đôi số người trong họ ra, và như vậy cho đến khi gia đình này bị tách ra khỏi. Do vậy, họ biết người mang vân rủi ở trong gia đình đó nên đánh đập và đuổi gia đình này đi.

Người mẹ kiếm sống rất khó nhọc. Đến kỳ sinh nở, bà sinh được một người con trai. (Vị này vì sinh vào kiếp sống cuối cùng của mình nên không bị giết chết. Giống như ngọn lửa ở trong một cái bình, ngọn lửa trở thành một vị A-la-hán cháy bỏng trong tim cậu bé một cách kiên cố.) Người mẹ nuôi nấng con mình cho đến khi cậu bé có thể chạy nhảy được. Và đến lúc này, bà đặt một bát sành vào trong tay cậu bé, bảo cậu đi vào một nhà nọ để xin ăn, rồi bà bỏ trốn. Từ đó về sau, cậu bé cô độc này thường xin ăn ở những vùng lân cận và ngủ bất cứ nơi đâu có thể. Cậu bé bẩn thỉu và nhếch nhác, kiếm sống khổ sở như một con quỷ ăn bùn. Khi được bảy tuổi, như một con quạ, cậu bé nhặt lấy và ăn từng cục cơm rơi mà cậu tìm thầy ở trước một ngôi nhà, nơi người nhà súc nồi đổ ra.

Tôn giả Xá-lợi-phất, bậc Tướng quân Chánh pháp, trên đường đi vào thành Xá-vệ để khất thực đã nhìn thấy cậu bé này và nghĩ không biết đứa bé tội nghiệp này ở làng nào. Khởi lòng thương xót, Tôn giả gọi cậu bé đến. Cậu bé đi đến, đảnh lễ Tôn giả và đứng ở trước ngài.

Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi:

 – Con ở làng nào? Ba mẹ của con đâu?

 – Thưa Tôn giả, con là một đứa bé khốn khổ. Cha mẹ của con nói rằng họ đã kiệt sức, vì thế đã bỏ rơi con và trốn đi.

 – Con có muốn xuất gia không?

Cậu bé trả lời:

 – Thưa Tôn giả, thật sự con rất muốn, nhưng ai sẽ nhận một đứa bé nghèo khốn như con?

 – Ta sẽ nhận con.

 – Vậy cầu xin Tôn giả cho con được xuất gia.

Tôn giả cho đứa bé ăn và sau đó đưa về tinh xá, tự tay tắm rửa cho cậu, rồi truyền trao giới Sa-di, và về sau khi cậu bé đủ tuổi thì truyền trao giới Cụ túc Tỳ-kheo. Đến tuổi trưởng thành, vị này được gọi là Trưởng lão La-sa-già Đế-sa. Trưởng lão là một người kém phước nên nhận được rất ít đồ cúng dường. Chuyện kể rằng, dầu có lễ cúng dường rộng rãi đến đâu đi nữa được tổ chức, Trưởng lão cũng không bao giờ ăn được no, chỉ nhận đủ thức ăn để nuôi mạng sống. Chỉ một muổng cơm là dường như đã đổ đầy bát của Trưởng lão, để rồi những người cúng dường nghĩ rằng bát của Trưởng lão đã đầy nên đem cúng số cơm còn lại của họ cho người kế sau. Khi cơm được đổ vào bát của Trưởng lão, chuyện kể rằng, cơm ở nơi đĩa của người bố thí cũng như biến mất luôn; và tất cả các thức ăn khác cũng như vậy.

Thời gian trôi qua, Trưởng lão phát triển Thánh trí và rồi chứng được Thánh quả A-la-hán, nhưng tuy thế vẫn chỉ nhận được rất ít thức ăn.

Đến lúc tuổi thọ sắp mãn, khi các duyên cấu nên sự hiện hữu dần tan rã, ngày nhập Niết bàn của Trưỡng lão đã đến gần. Bậc Tướng quân Chánh pháp khi thiền đình đã biết được điều này nên nghĩ: “Trưởng lão La-sa-già Đế-sa hôm nay sẽ nhập Niết bàn, và hôm nay ta mong nhìn thấy Trưởng lão nhận đủ thức ăn theo ý muốn.” Vì thế, ngài đưa Trưởng lão đi đến thành Xá-vệ để khất thực. Nhưng do vì Trưởng lão La-sa-già cùng đi với ngài, nên dầu Tôn giả Xá-lợi-phất có cố kiên trì khất thức ở thành Xá-vệ đông đúc thì vẫn không thể xin đầy được một bát. Vì thế, ngài bảo Trưởng lão về trước ngồi đợi mình ở phòng khách tịnh xá, còn mình quyên góp thức ăn và sau đó giao người khác đem về cho Trưởng lão. Nhưng những người được giao đem thức ăn về đã quên mang đến cho Trưởng lão La-sa-già mà tự mình ăn thức ăn ấy. Vì thế, khi Tôn giả Xá-lợi-phất đứng lên và đi vào tịnh xá, Trưởng lão La-sa-già đi đến ngài và đảnh lễ. Tôn giả Xá-lợi-phất dừng bước và quay lại hỏi:

 – Pháp hữu, thầy có nhận được thức ăn không?

 – Đúng giờ chắc con sẽ nhận được. Trưởng lão La-sa-già đáp.

Tôn giả Xá-lợi-phất vô cùng nghi ngờ nên bèn xem giờ. Nhận thấy giờ ngọ đã qua, Tôn giả nói:

 – Này Pháp hữu, hãy ở đây, đừng đi đâu cả.

Rồi ngài cho Trưởng lão La-sa-già Đế-sa ngồi ở phòng khách, còn mình đi đến cung vua Câu-tát-la. Nhà vua bảo quân hầu mang lấy bát của Tôn giả, nói rằng đã qua khỏi giờ ngọ nên không phải thời để dùng cơm, do đó bảo đổ đầy bát của Tôn giả bốn loại thức ăn ngọt. Tôn giả mang thức ăn này về, ôm bình bát trong tay, đứng trước mặt Trưởng lão La-sa-già và bảo Trưởng lão ăn thức ăn ấy. Nhưng bởi lòng kính trọng đối với Tôn giả Xá-lợi-phất, Trưởng lão La-sa-già cảm thấy hổ thẹn và vì thế đã không ăn. Tôn giả Xá-lợi-phất nói:

 – Pháp hữu Đế-sa, tôi phải ôm bát đứng như vậy, còn thầy thì hãy ngồi ăn. Nếu tôi rời tay khỏi bát, mọi thứ trong bát sẽ lập tức biến mất.

Vì thế, Trưởng lão La-sa-già Đế-sa ăn các thức ăn ngọt, trong khi bậc Tướng quân Chánh pháp đứng ôm bát, và nhờ công đức của Tôn giả mà thức ăn đã không biến mất. Trưởng lão La-sa-già Đế-sa vì thế đã được ăn no; và cũng chính ngày hôm đó, Trưởng lão đã nhập Niết bàn vô dư y, không còn chịu sự tái sanh trở lại nữa.

Bậc Chánh Giác đứng một bên và nhìn nhục thân của Trưởng lão được hoả táng. Sau đó, một bảo tháp được dựng lên để tôn thờ các xá lợi được thu nhặt lại.

Chư Tỳ-kheo hội họp trong Chánh pháp đường và nói:

 – Thưa các Pháp hữu, Trưởng lão La-sa-già thật là thiểu phước, chỉ nhận được rất ít đồ cúng dường. Nhưng tại sao với ít phước đức và ít được cúng dường như vậy, Trưởng lão lại chứng được Thánh quả A-la-hán?

Đức Thế Tôn đi vào Chánh pháp đường và hỏi chư vị đang thảo luận về việc gì. Chư vị bạch sự việc lên Ngài. Ngài nói:

 – Này các Tỳ-kheo, những hành nghiệp của Tỳ-kheo này là nguyên nhân đưa đến hai sự kiện: được nhận ít đồ cúng dường nhưng đồng thời lại chứng đắc A-la-hán. Thầy này vào đời trước, do ngăn cản người khác cúng dường nên nay ít được cúng dường. Nhưng do đời trước chú tâm thiền quán về khổ ưu, vô thường và vô ngã nên nay chứng được quả A-la-hán.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, vào thời đức Phật Ca Diếp (Kassapa), có một Tỳ-kheo nọ sống ở một ngôi làng ở miền quê và vị này được một vị điền chủ hộ trì. Vị này hành hạnh Tỳ-kheo, giới đức đầy đủ và chuyên tâm tu tập thiền quán. Cũng có một vị Trưởng lão khác đã chứng A-la-hán, sống cùng với những người đồng phạm hạnh. Vị Trưởng lão này lần đầu tiên đi đến ngôi làng, nơi mà vị điền chủ hỗ trợ cho vị Tỳ-kheo kia đang sống. Trông thấy oai nghi của Trưởng lão, vị điền chủ vô cùng hoan hỷ nên mang lấy bình bát của ngài, đưa ngài vào nhà và cung kính mời ngài thọ trai. Rồi sau khi nghe Trưởng lão thuyết một bài pháp ngắn, vị điền chủ đảnh lễ và thưa:

 – Bạch Tôn giả, xin mời ngài đi đến ngôi tịnh xá của chúng con ở gần đây. Vào buổi chiều, con sẽ đến đó để đảnh lễ ngài.

Thế rồi Trưởng lão đi đến tịnh xá, đảnh lễ thầy Tỳ-kheo thường trú ở đấy, và sau khi xin phép một cách lịch thiệp, đã ngồi xuống cận một bên. Thầy Tỳ-kheo thường trú tiếp đón thân mật và hỏi Trưởng lão đã nhận được thực phẩm cúng dường chưa. Trưởng lão trả lời đã được rồi. Tỳ-kheo thường trú hỏi:

 – Tôn giả nhận được ở đâu?

 – Tại nhà của vị điền chủ ở làng này, sát gần đây.

Nói vậy xong, Trưởng lão xin Tỳ-kheo thường trú chỉ cho phòng nghỉ. Sau khi cất y bát, Trưởng lão ngồi xuống, an trú trong thiền lạc và thọ hưởng lạc Quả.

Vào buổi chiều, vị điền chủ cùng với những người hầu mang hoa, nước hoa, đèn và dầu đi đến tịnh xá, đảnh lễ Tỳ-kheo thường trụ và hỏi vị Trưởng lão đã đến chưa. Khi nghe nói Trưởng lão đã đến, vị điền chủ hỏi Trưởng lão hiện ở đâu và muốn biết phòng Trưởng lão ở. Sau đó, vị điền chủ đi đến chỗ Trưởng lão, cung kính đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và nghe ngài thuyết pháp. Vào chiều mát, sau khi cúng dường điện Phật, cây Bồ đề, và đốt đèn xong, vị điền chủ mời Trưởng lão và Tỳ-kheo thường trụ ngày mai đến nhà mình để thọ trai, rồi ông ra về.

Thầy Tỳ-kheo thường trụ nghĩ: “Ta đang đánh mất vị điền chủ. Nếu vị Trưởng lão này lưu lại đây, ta sẽ không có giá trị gì so với ông ấy cả.” Cảm thấy khó chịu, Tỳ-kheo này tìm cách làm cho Trưởng lão không thể trú được ở đó. Do đó vào buổi sáng, khi Trưởng lão đến chào hỏi, Tỳ-kheo thường trú ngậm thinh không nói một lời. Trưởng lão A-la-hán đọc được suy nghĩ của vị kia nên tự nhủ: “Tỳ-kheo này không biết rằng ta sẽ không bao giờ giành lấy gia đình cúng dường cho vị ấy hay đồ cúng của vị ấy.” Nghĩ thế, ngài trở về phòng mình, an trú trong thiền lạc và quả lạc.

Ngày hôm sau, Tỳ-kheo thường trú đánh khẻ vào chiếc chuông nhỏ, rồi dùng móng tay gõ nhẹ vào cửa phòng vị Trưởng lão trú, sau đó một mình đi đến nhà vị điền chủ. Mang lấy bát của Tỳ-kheo này, vị điền chủ mới vị này ngồi và hỏi:

 – Thưa Tôn giả, Trưởng lão khách đâu rồi?

Tỳ-kheo này trả lời:

 – Tôi không biết tin tức gì cả về người bạn của ông. Mặc dù tôi đánh chuông và gõ cửa phòng của vị ấy, tôi cũng không đánh thức vị ấy dậy được. Tôi nghĩ là do ngày hôm qua vị ấy dùng thứ thức ăn hảo hạng không thích hợp với mình và do vậy bây giờ bị mệt nên vẫn còn ngủ. Có thể những việc như thế sẽ làm ông vừa lòng.

Trong khi ấy, Trưởng lão A-la-hán chờ đến giờ đi khất thực thì tắm rửa, đắp y, rồi mang bình bát bay vào không trung để đi đến một nơi khác.

Vị điền chủ cúng dường cơm, sữa cùng với bơ, đường và mật ong cho Tỳ-kheo thường trụ dùng. Sau đó ông cho người lấy bình bát của vị Tỳ-kheo này đem rửa bằng bột thơm, rồi đổ thức ăn đầy bát lần nữa và nói:

 – Thưa Tôn giả, Trưởng lão ấy chắc do đi đường mệt, vậy xin mang thức ăn này về cho Trưởng lão.

Không chút ngần ngại, Tỳ-kheo thường trú nhận lấy thức ăn và lên đường trở về, nghĩ: “Nếu Trưởng lão ấy nếm được mùi vị của thức ăn này thì dầu có bị nắm cổ đuổi đi cũng sẽ không đi. Nhưng làm thế nào để vứt bỏ thức ăn này đây? Nếu ta đem cho một người khác, sự việc sẽ bại lộ. Nếu ta đổ vào nước, bơ sẽ nổi bồng bềnh ở trên mặt. Còn nếu vứt nó trên đất, loài quạ sẽ tập trung lại đó.” Trong lúc bối rối như vậy, vị này nhìn thấy một cánh đồng bị đốt cháy. Đào lớp than đỏ lên, vị này đổ thức ăn vào trong một cái lỗ, lấy than đỏ lấp đầy lên trên rồi ra về. Không tìm thấy Trưởng lão A-la-hán ở đấy, vị này nghĩ rằng chắc Trưởng lão biết được lòng ghen tị của mình nên đã ra đi.

 – Ôi thật là xấu hổ! Chỉ vì tham ăn mà ta đã tạo ra điều tội lỗi. Tỳ-kheo này than thở.

Từ đó trở đi, vị ấy sống trong đau khổ và trở thành như một con ma sống. Rồi không lâu sau, vị này qua đời và tái sanh vào địa ngục, chịu đau khổ ở đấy hàng trăm ngàn năm. Đến khi ác nghiệp chín muồi, trong năm trăm kiếp, vị này tái sanh làm một con quỷ không bao giờ kiếm đủ ăn, chỉ trừ một ngày nó được ăn no với đồ thừa uế. Năm trăm kiếp tiếp theo, vị này tái sinh làm chó, và cũng chỉ được một lần ăn no nhờ cơm bị nôn mửa ra, còn không có một dịp nào kiếm đủ để ăn. Đến khi chấm dứt kiếp chó, nó tái sanh vào một gia đình bần cùng sống ở một ngôi làng ở nước Ca-thi (Kāsi). Từ khi nó ra đời, gia đình nó càng trở nên bần cùng hơn, và nó không bao giờ có được nửa tô nước cháo để uống. Nó được đặt tên là Mitta-vindaka.

Cuối cùng, không thể chịu nỗi cảnh bần cùng vây bủa, cha mẹ nó đánh đập và đuổi nó đi, nói rằng:

 – Hãy xéo đi thằng con tai hoạ!

Trong khi đi lang thang, đứa bé bị ruồng bỏ này đi đến Ba-la-nại. Bấy giờ, Bồ-tát là một vị Sư trưởng nỗi tiếng, dạy học cho năm trăm thanh niên Bà-la-môn. Thuở đó, dân chúng Ba-la-nại thường cho những trẻ em nghèo thức ăn và dạy học miễn phí cho chúng, và vì thế Mitta-vindika trở thành một người học trò được Bồ-tát dạy miễn phí. Nhưng nó là một đứa bé hung dữ và khó dạy bảo, luôn đánh nhau với các bạn đồng học và không thèm để ý đến lời khuyên của Sư trưởng. Và do nhận nó, tiền thu phí của Bồ-tát ngày càng giảm đi. Rồi vì gây lộn và không chịu nghe lời khuyên bảo như vậy, nên khi đến tuổi thành niên, anh ta phải trốn đi. Anh ta đi đến một ngôi làng vùng biên giới và làm thuê để kiếm sống. Tại đây, anh ta lấy một phụ nữ khố rách áo ôm làm vợ và sinh được hai đứa con. Sau đó, dân làng thuê anh ta dạy cho họ những những vấn đề đúng sai, và cho anh ta một cái am tranh để sống tại đường vào làng. Nhưng do vì Mitta-vindaka đến đấy sống mà tất cả dân làng này bị nhà vua xử phạt bảy lần, rồi bảy lần nhà cửa của họ bị thiêu cháy, và bảy lần hồ nước của họ bị khô cạn.

Họ suy nghĩ và cuối cùng đồng ý rằng, trước khi Mitta-vindaka đến họ không gặp phải những tình cảnh như vậy, chỉ khi anh ta đến họ mới lần lượt bị những tai ương ấy. Vì thế họ đánh đập và đuổi anh ta ra khỏi làng.

Anh ta đem vợ con ra đi và đến một khu rừng có ác ma ở. Và ở đấy, những ác ma đã giết và ăn thịt vợ con của anh ta. Chạy trốn khỏi đó, anh ta lang thang hết nơi này đến nơi khác và cuối cùng đi đến một bến tàu có tên là Gambhīra chính vào ngày chiếc tàu được hạ thuỷ, và rồi anh ta được thuê phục vụ trên tàu.

Nhưng một tuần sau khi chiếc tàu xuất hành, vào ngày thứ bảy, chiếc tàu đứng yên bất động giữa biển, như thể gặp phải một khối đá. Thế là họ rút thăm để đuổi đi người mang vận rủi, và bảy lần xăm đều rơi vào Mitta-vindaka. Vì thế, họ cho anh ta một chiếc bè tre và nắm anh ta vứt xuống biển. Ngay lập tức, con tàu chạy  trở lại.

Mitta-vindaka leo lên bè tre và trôi nổi trên đại dương. Nhưng nhờ vào thời Phật Ca Diếp anh ta có giữ giới, nên ở giữa đại dương anh ta gặp được bốn thiên nữ sống trong một lâu đài pha lê, và anh ta sống hạnh phúc với họ bảy ngày. Bấy giờ, những thiên nữ ở lâu đài chỉ hưởng thọ hạnh phúc trong bảy ngày, sau ngày thứ bảy, họ phải ra đi để chịu hình phạt. Họ để anh ta lại và bảo anh ta chờ họ trở về. Nhưng khi họ vừa đi, Mitta-vindaka liền lên bè tre và đi đến một lâu đài bằng bạc, nơi tám vị thiên nữ đang sống. Lại rời họ ra đi, anh ta đến một cung điện bằng ngọc, nơi có mười sáu vị thiên nữ đang sống; sau đó đi đến cung điện bằng vàng nơi có ba mươi hai thiên nữ sống. Không nói với họ một lời, anh ta lại chèo bè ra đi và sau đó đi đến kinh thành dạ xoa nằm giữa những hòn đảo. Ở đấy, có một con dạ xoa mang hình hài một con dê. Mitta-vindaka không biết đó là một con dạ xoa nên nghĩ sẽ bắt con dê dạ xoa đó để ăn thịt. Anh ta nắm lấy chân con vật này. Ngay lập tức, bằng năng lực dạ xoa của mình, nó ném mạnh anh ta ngang qua biển. Anh ta rơi phịch xuống trên một bụi cây gai mọc bên sườn hào khô nước ở thành Ba-la-nại, và ở đấy anh ta lăn tròn trên đất.

Thật ngẫu nhiên, bấy giờ, những tên trộm thường đến cái hào nước đó để giết dê của vua, và những người chăn dê đứng núp ở đó để bắt những tên trộm.

Mitta-vindaka ngồi dậy và nhìn thấy những con dê. Anh ta nghĩ: “Chính một con dê tại hòn đảo trên biển đã ném ta đến đây khi ta nắm lấy chân nó. Nếu ta cũng làm như vậy với một trong những con dê này, có thể nó sẽ đá ta trở lại chỗ lâu đài giữa biển, nơi các thiên nữ sống.” Thế rồi không cần suy nghĩ, anh ta năm lấy chân một con dê. Con dê lập tức kêu lên. Những người chăn dê từ bốn phía ập đến, bắt lấy anh ta và hô lớn:

 – Đây là tên trộm lâu này đã sống nhờ vào những con dê của nhà vua.

Rồi họ đánh anh ta, trói anh ta lại và kéo đến nhà vua. Chính lúc ấy, Bồ-tát cùng với năm trăm thanh niên Bà-la-môn ra khỏi kinh thành để đi tắm. Nhìn thấy và nhận ra Mitta-vindaka, Bồ-tát nói với những người chăn dê:

 – Các vị, đây là học trò của tôi, tại sao các vị lại bắt anh ta?

Những người chăn dê nói:

 – Thưa Sư trưởng, chúng tôi nhìn thấy tên trộm này đang bắt một con dê, và vì thế chúng tôi bắt hắn.

Bồ-tát nói:

 – Xin trao hắn cho chúng tôi để làm nô lệ.

 – Vâng, thưa Sư trưởng.

 Những người này đồng ý, thả anh ta ra và trở về. Sau đó Bồ-tát hỏi Mitta-vindanka rằng lâu nay anh ta sống ở đâu, và anh ta đã kể lại cho Bồ-tát nghe tất cả những gì anh ta đã làm. Bồ-tát nói với các học trò:

 – Chính vì không nghe lời những người muốn anh ta trở nên hiền lương mà anh ta phải gánh chịu tất cả những bất hạnh này.

Nói xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ:

Ương ngạnh khi được dạy

Lơ là lời bạn khuyên

Như Mit-ta chịu khổ

Khi nắm lấy chân dê.

Rồi bấy giờ, cả Sư trưởng và Mitta-vindaka mạng chung, sau đó họ sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

 – Này các Tỳ-kheo, chính La-sa-già là chủ nhân của việc nhận được ít đồ cúng dường, lẫn việc chứng đắc A-la-hán.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, Trưởng lão La-sa-già Đế-sa là Mitta-vindaka, còn ta chính là vị Sư trưởng danh tiếng.

Chuyện số 42: CHUYỆN CHIM BỒ CÂU (Tiền thân Kapota)

Ương ngạnh khi được dạy…

Trong khi trú tại tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo có tâm tham. Lòng tham của vị này sẽ được kể lại ở Tiền thân Kāka, Tập chín.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo bạch với đức Thế Tôn:

 – Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo này có tâm tham.

Đức Thế Tôn hỏi:

 – Này Tỳ-kheo, như họ nói đấy, có thật là thầy có tâm tham không?

 – Thưa có, bạch Thế Tôn.

 – Này Tỳ-kheo, vào đời trước thầy cũng có tâm tham, và chính tâm tham của thầy đã cướp đi sinh mạng của thầy. Và cũng chính vì thầy mà bậc Hiền trí phải mất đi nhà cửa.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì ở Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sinh làm một con chim bồ câu. Bấy giờ, dân chúng Ba-la-nại vì muốn làm việc phước thiện nên thường treo những cái giỏ rơm ở nhiều nơi khác nhau để cho những con chim có nơi trú ẩn an ổn. Người đầu bếp của vị hào phú ở xứ Ba-la-nại cũng treo một cái giỏ như vậy trong bếp của mình. Bồ-tát trú trong cái giỏ này, vào lúc bình minh thì bay đi kiếm thức ăn và trở về nhà vào buổi chiều. Bồ-tát sống cuộc đời như vậy.

Một hôm, có một con quạ bay ngang nhà bếp, ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt của thịt tươi, cá muối xong ra từ nhà bếp ấy thì mong muốn được nếm. Tìm cách thoả mãn lòng tham muốn của mình, nó bay gần đến nhà bếp ấy. Nhìn thấy vào buổi chiều, Bồ-tát bay về và đi vào nhà bếp ấy, nó nghĩ: “Có cách rồi! Ta có thể kiếm được thức ăn đó thông qua con bồ câu này.”

Vì thế vào sáng sớm ngày hôm sau, khi Bồ-tát bay đi kiếm mồi, nó bay theo Bồ-tát hết nơi này đến nơi khác giống như một cái bóng. Thấy thế, Bồ-tát hỏi:

 – Này bạn, tại sao bạn cứ bám lấy tôi như vậy?

Qụa trả lời:

 – Thưa ông, phong thái của ông làm tôi ngưỡng mộ. Từ này, cho phép tôi được đi theo ông.

 – Nhưng này bạn, thức ăn của bạn và của tôi hoàn toàn khác nhau. Bạn sẽ gặp khó khăn nếu bạn đi kiếm thức ăn cùng với tôi đấy.

Qụa nói:

 – Thưa ông, khi ông kiếm mồi, tôi cũng sẽ kiếm mồi gần bên ông.

Bồ-tát nói:

 – Nếu vậy thì bạn phải thật cố gắng mới được.

Khuyên bảo con qụa như vậy xong, Bồ-tát đi khắp nơi để kiếm hạt cỏ, trong khi con qụa lật phân bò và nhặt lấy những con côn trùng nằm ở bên dưới, ăn cho đến khi no bụng. Sau đó nó đi đến Bồ-tát và nói:

 – Thưa ông, ông dành quá nhiều thời gian vào việc kiếm ăn như vậy thật không nên.

Khi kiếm ăn xong, vào buổi chiều, Bồ-tát bay về nhà. Con qụa cũng bay về theo vào nhà bếp.

 – A, con chim của ta đem về nhà thêm một con chim khác.

Người đầu bếp nói và treo thêm một cái giỏ khác cho con quạ. Từ đó, hai con vật cùng ở trong nhà bếp.

Một hôm, vị hào phú mua được rất nhiều cá và người đầu bếp đem cá ấy treo khắp trong bếp. Nhìn thấy những con cá này, con qụa sinh lòng tham lam nên quyết định ngày mai sẽ ở nhà để ăn món ăn tuyệt vời đó.

Thế rồi suốt đêm hôm đó, quạ nằm rên rỉ. Và ngày hôm sau, trước khi bắt đầu bay đi kiếm ăn, Bồ-tát nói:

 – Này bạn qụa, chúng ta hãy đi kiếm ăn thôi.

 – Thưa ông, Tôi bị đau bụng, vậy ông hãy đi kiếm ăn một mình.

Bồ-tát nói:

 – Này bạn, từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ nghe loài quạ bị đau bụng cả. Sự thực, vào một trong ba canh, mỗi khi loại quạ cảm thấy đói, chúng chỉ cần ăn một cái bấc đèn thì cơn đói ngay lúc đó được khỏi. Bạn chắc thèm muốn những con cá ở trong nhà bếp này. Hãy đi thôi, thức ăn đó không thích hợp cho bạn đâu. Chớ làm như vậy, hãy đi kiếm thức ăn với tôi.

Quạ nói:

 – Thưa ông, sự thật là tôi không thể đi được.

Bồ-tát nói:

 – Việc làm của bạn rồi sẽ bị lộ ra. Bạn chớ làm mồi cho lòng tham, chớ để tâm dao động.

Khuyên bảo như vậy xong, Bồ-tát bay đi kiếm thức ăn.

Người đầu bếp chọn nhiều loại cá và nấu đủ món ăn, rồi sau đó mở nắp chảo ra một lát cho bốc hơi, lấy một cái rá đậy lên chảo và đi ra ngoài đứng lau mồ hôi trên trán. Ngay khi ấy, con quạ thò đầu ra khỏi giỏ. Nhìn thấy người đầu bếp đã đi ra, nó nghĩ: “Đây chính là thời điểm của ta. Nhưng không biết ta phải nên chọn miếng cá nhỏ hay miếng cá lớn đây?” Nghĩ rằng nếu ăn miếng cá nhỏ, để no được phải mất một thời gian lâu, vì thế nó quyết định chọn miếng cá lớn để mang lên giỏ nằm ăn. Nghĩ thế, nó bay ra khỏi giỏ và đậu lên cái rá. “Lách cách”, cái rá gây ra tiếng động. Người đầu bếp nghe thấy tiếng động, không biết điều gì đã xảy ra nên bèn chạy vào. Nhìn thấy con quạ, ông ta hét lên:

 – A, con quạ ranh con này muốn ăn bữa ăn trưa của ông chủ ta. Ta phục vụ cho ông chủ ta chứ đâu phải phục vụ cho đứa nhãi ranh như nó. Nó là cái gì đối với ta chứ?

Thế rồi đống cửa lại, ông ta bắt lấy con quạ và nhổ sạch lông. Sau đó, giã gừng, muối và quế, ông trộn lẫn chúng với bơ sữa chua và đem con quạ dầm vào trong ấy. Xong xuôi, ông ném nó trở lại giỏ. Con quạ nằm ở đấy rên rỉ, kiệt sức vì đau đớn. Vào buổi chiều, Bồ-tát trở về, nhìn thấy tình cảnh đau đớn của con quạ như vậy thì nói:

 – Con quạ tham lam, vì ngươi không nghe lời ta nên lòng tham của ngươi đã đem lại cho ngươi tai ương.

Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:

Ương ngạnh khi được dạy

Lơ là lời bạn khuyên

Sẽ bị hại như qụa

Kẻ khinh lời bồ câu.

Rồi nghĩ rằng mình không thể sống ở đấy được nữa nên Bồ-tát đành bay đi nơi khác. Còn con quạ thì chết ngay vào lúc ấy. Người đầu bếp nhặt lấy nó ném vào đống rác, cùng với chiếc giỏ rơm và mọi thứ rác rười.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

 – Này Tỳ-kheo, vào đời trước thầy cũng tham lam như bây giờ vậy. Và do long tham lam của thầy mà bậc hiền trí đã phải ra khỏi nhà.

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo tham lam chứng được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân như sau:

 – Tỳ-kheo tham lam thuở ấy là con quạ, còn ta là chim Bồ-câu.

Chuyện số 43: CHUYỆN CON RẮN TRE (Tiền thân Veluka)

Ương ngạnh khi được dạy…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo khó dạy. Khi đức Thế Tôn hỏi rằng những gì được thuật lại có thật có hay không, Tỳ-kheo này thừa nhận rằng điều đó có. Nghe thế, đức Thế Tôn nói:

 – Này Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên thầy khó bảo thôi đâu, mà vào đời trước thầy cũng từng khó bảo như vậy. Và do ương ngạnh không nghe theo lời khuyên bảo của bậc hiền trí mà thầy phải bỏ mạng do một con rắn cắn.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahamadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Banares), Bồ-tát sinh vào một gia đình giàu có ở vương quốc Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, nhận thấy rằng chính tham ái là nguồn gốc sinh khởi khổ đau; và hạnh phúc chân thật có được nhờ từ bỏ tham ái nên Bồ-tát từ bỏ tham ái, đi đến Tuyết sơn xuất gia làm ẩn sĩ. Bồ-tát tu tập thiền định, chứng được Năm thắng trí và Tám thiền, sống thọ hưởng thiền lạc. Một thời gian sau, Bồ-tát trở thành vị Đạo sư của một hội chúng đông đảo gồm năm trăm vị ẩn sĩ.

Bấy giờ, có một con rắn độc con bò đi khắp nơi như loài rắn thường làm, và rồi đã đi đến thảo am của những vị ẩn sĩ. Một vị ẩn sĩ khởi lòng thương yêu con rắn như là con của mình nên cho nó ở trong một cái ống tre và nuôi dưỡng nó tử tế. Và do vì nó ở trong ống tre nên nó có tên gọi là rắn Tre. Còn vị ẩn sĩ ấy do thương yêu nó như con của mình nên vị này có tên gọi là Cha của rắn Tre.

Nghe có một vị ẩn sĩ nuôi một con rắn, Bồ-tát cho gọi vị ẩn sĩ đó đến và hỏi rằng điều đó có thực hay không. Khi nghe thưa rằng điều đó có thực, Bồ-tát nói:

 – Không thể tin được một con rắn. Con chớ nuôi nó nữa.

Vị ẩn sĩ này phản đối:

 – Nhưng con rắn này yêu thương con như một người học trò đối với một người thầy. Con không thể sống mà không có nó.

Bồ-tát nói:

 – Vậy con sẽ mất mạng vì chính con rắn này.

Nhưng không cần màng đến lời cảnh báo của Đạo sư, vị ẩn sĩ đó vẫn nuôi con rắn, không thể bỏ nó được. Rồi một vài ngày sau, tất cả các ẩn sĩ cùng đi hái trái cây. Họ đi đến một nơi có rất nhiều loại trái và ở lại đó hai ba ngày. Trước đó, Cha của rắn Tre đặt rắn tre ở trong cái ống tre rồi để nó ở lại và cùng ra đi với họ. Sau hai ba ngày, khi cùng với họ trở về, vị ẩn sĩ này định cho con rắn ăn nên mở cái ống ra, đưa cánh tay ra và nói:

 – Này con, hãy ra đi nào! Con chắc đói lắm rồi.

Nhưng tức giận vì hai ba ngày liền không có đồ ăn, con rắn cắn vào cánh tay đang đưa ra của vị ẩn sĩ, giết chết vị này ngay tại chỗ rồi trốn thoát vào rừng.

Nhìn thấy vị này nắm chết ở đấy, các ẩn sĩ đi đến thưa lại việc đó với Bồ-tát. Bồ-tát bảo đem thi thể của vị này đi hỏa táng. Sau đó ngồi giữa hội chúng, Bồ-tát khuyên dạy các ẩn sĩ qua bài kệ này:

Ương ngạnh khi được dạy

Lơ là lời bạn khuyên

Chắc chắn sẽ bị hại

Như Cha của rắn Tre.

Khuyên bảo các đệ tử như vậy xong, Bồ-tát tu tập Tứ vô lượng tâm, và sau khi mạng chung đã sanh về Phạm Thiên giới.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

 – Này Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên thầy ương ngạnh thôi đâu. Đời trước, do vì ương ngạnh mà thầy đã bị một con rắn độc cắn chết.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn liên kết hai câu chuyện lại và nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, thầy Tỳ-kheo ương ngạnh này là “Cha của rắn Tre”, những đệ tử của ta là nhóm các ẩn sĩ, còn ta chính là Đạo sư của họ.

Chuyện số 44: CHUYỆN CON MUỖI (Tiền thân Makasa)

Người bạn thiếu trí còn tệ hơn…

Câu chuyện này, trong khi đang du hoá tại nước Ma-kiệt-đà (Magadha), đức Thế Tôn kể về những người ngu si tại một ngôi làng nhỏ. Truyện kể rằng, sau khi rời thành Xá-vệ, đức Thế Tôn đi đến kinh đô nước Ma-kiệt-đà. Trên đường đi, Ngài đi đến một ngôi làng nhỏ mà mọi người trong làng ấy đều là những người ngu si. Một hôm, những người ngu si ở ngôi làng này tập họp lại và cùng nhau bàn bạc, nói:

 – Này các bạn, khi chúng ta vào rừng làm việc, những con muỗi đã cắn chúng ta, khiến công việc chúng ta bị trở ngại. Chúng ta hãy trang bị cung tên và các loại vũ khí khác để đi đánh nhau với những con muỗi này, bắn chém và giết chết hết tất cả chúng.

Vì thế họ đi vào rừng và la lớn:

 – Hãy bắn rơi những con muỗi.

Nhưng rồi họ bắn và đánh đập lẫn nhau, đến khi tất cả đều ở trong tình trạng tồi tệ thì quay trở về, ngã gục xuống đất hoặc ở trong làng hoặc tại đường vào làng.

Cùng với các Tỳ-kheo nhiễu quanh, đức Thế Tôn đi đến ngôi làng đó khất thực. Một vài người còn tỉnh táo trong làng khi thấy đức Thế Tôn đến thì liền dựng một cái rạp tại đường vào làng, cúng dường cho bậc Toàn giác và chúng Tỳ-kheo theo Ngài, sau đó đảnh lễ Ngài và ngồi xuống. Nhìn thấy nhiều người bị thương nằm rải rác đây đó, đức Thế Tôn hỏi những vị cư sĩ này:

 – Này các vị, có nhiều người bị thương nằm quanh đây, có điều gì xảy ra với họ vậy?

Họ trả lời:

 – Bạch Thế Tôn, những người này đi vào rừng để đánh nhau với những con muỗi, nhưng rồi lại bắn lẫn nhau nên mới bị thương tích như vậy.

Đức Thế Tôn nói:

 – Này chư vị, đây không phải lần đầu tiên những người ngu si này thay vì đánh đập những con muỗi mà họ muốn giết lại tự đi đánh đập nhau như vậy. Đời trước cũng vậy, có những kẻ thay vì đánh một con muỗi, lại đi đánh một người thân của họ.

Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của những người trong làng, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một người thương nhân. Bấy giờ, tại một ngồi làng ở vùng biên giới nước Ca-thi (Kāsi), có nhiều người thợ mộc sinh sống, và trong số họ có một người bị sói đầu. Một hôm, vị sói đầu này đang đẻo một khúc gổ. Khi ấy, một con muỗi đậu lên cái đầu sáng bóng như cái bát đồng của vị này, dùng cái vòi giống như mũi tên đâm vào lớp da đầu.

Người thợ mộc nói với con trai của mình đang ngồi gần:

 – Này con, có một con muỗi đang đốt trên đầu cha, hãy đuổi nó đi.

 – Thưa cha, cứ để yên đấy, chỉ một cái đánh là con giết chết nó.

(Bấy giờ, Bồ-tát đi đến ngôi làng đó để buôn bán, và đang ngồi trong cửa hiệu của người thợ mộc.)

 – Hãy đuổi nó đi. Người cha nói.

 – Vâng thưa cha. Cậu con trả lời

Rồi ở sau lưng người cha, cậu con trai vung cái rìu sắc bén lên cao với ý định giết chết con muỗi, và đã bổ đầu của người cha ra thành hai mảnh, giết chết người cha ngay tại chỗ.

Bồ-tát chứng kiến toàn bộ cảnh tượng ấy, suy nghĩ: “Sống với một kẻ thù có trí còn tốt hơn sống với một người ngu như thế này, vì kẻ thù còn biết sợ hình phạt nên không giết người.” Và Bồ-tát đọc lên những dòng kệ này:

Người bạn thiếu trí còn tệ hơn

Kẻ thù đối nghịch nhưng có trí.

Bằng chứng người con đuổi con muỗi

Nhưng lại chẻ hai đầu người cha.

Nói vậy xong, Bồ-tát đứng dậy ra đi, rồi về sau qua đời và sanh theo hành nghiệp của mình. Còn thi thể của người thợ mộc đã được những người bà con hỏa táng.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

 – Này các cư sĩ, trước đây cũng có những người vì muốn tìm cách giết chết một con muỗi, đã đi giết chết một người khác.

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, ta chính là người thương nhân hiền trí, đã bỏ đi sau khi đọc lên bài kệ.

Chuyện số 45: CHUYỆN NỮ TỲ XÍCH NGƯU (Tiền thân Rohinnī)

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về cô nữ tỳ của Trưởng giả Cấp Cô Độc. Chuyện kể rằng, Trưởng giả có một cô nữ tỳ tên là Xích Ngưu (Rohiṇī). Bà mẹ già của người nữ tỳ này đi đến chỗ con gái của mình đang giã gạo và nằm xuống. Những con ruồi bu quanh bà lão, chích bà như dùng kim đâm. Vì thế bà nói với con gái mình:

 – Này con, những con ruồi đang chích mẹ, hãy đuổi chúng đi.

 – Vâng thưa mẹ, con sẽ đuổi chúng. Cô gái nói.

Rồi cô vung cái chày lên với ý định đập những con ruồi đang đậu trên người bà mẹ. Cô ta nói:

 – Con sẽ giết chúng.

Thế là cô ta dùng chày nện vào mẹ mình một cái, khiến bà lão chết ngay tại chỗ. Nhìn thấy những gì do mình gây ra, cô gái than khóc: “Ôi! Mẹ ơi, mẹ ơi!”

Sự việc được trình lên Trưởng giả Cấp Cô Độc. Trưởng giả cho hỏa táng thi thể bà lão, sau đó ông đi đến tinh xá và bạch lại với đức Thế Tôn những gì đã xảy ra. Đức Thế Tôn nói:

 – Này cư sĩ, đây không phải là lần đầu tiên vì muốn giết những con ruồi đang đậu trên thân người mẹ mà cô Xích Ngưu này đã dùng một cái chày nện cho mẹ mình bị chết. Vào đời trước, chính cô ta cũng đã từng làm như vậy.

Sau đó theo lời thỉnh cầu của Trưởng giả, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai của một vị Trưởng giả, và về sau đã trở thành một vị Trưởng giả khi thân phụ của Ngài qua đời. Ngài có một cô nữ tỳ tên là Xích Ngưu. Mẹ của cô gái này đi đến chỗ người con gái đang giã gạo và nằm xuống đó, bảo con gái.

 – Này con, hãy đuổi những con ruồi này cho mẹ.

Và giống như ở trên, cô gái này đã dùng một cái chày nện vào người bà mẹ và giết chết bà, rồi sau đó khóc lóc.

Nghe kể lại những gì đã xảy ra, Bồ-tát suy nghĩ: “Trên đời này, sống với một kẻ thù có trí còn tốt hơn sống với hạng người ngu si.” Và ngài đọc lên những dòng kệ này:

Người bạn thiếu trí còn tệ hơn

Kẻ thù đối nghịch nhưng có trí.

Bằng chứng cô gái thiếu cẩn trọng

Giết mẹ bây giờ lại than khóc.

Tán thán người có trí bằng những lời như vậy xong, Bồ-tát tuyên thuyết Chánh pháp.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

        – Như thế, này cư sĩ, đây không phải là lần đầu tiên cô Xích Ngưu này vì muốn giết những con ruồi lại đi giết chết chính mẹ của mình.

Kết thúc pháp thoại này này, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, Người mẹ và cô con gái cũng chính là người mẹ và cô con gái bây giờ, còn ta chính là vị Trưởng giả.

Chuyện số 46: CHUYỆN KHU VƯỜN BỊ PHÁ HỎNG (Tiền thân Arāmadūsaka)

Việc làm người có trí…

Trong khi trú tại một ngôi làng nhỏ ở nước Câu-tát-la (Kosala), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một người đã làm hỏng vườn.

Truyền thuyết kể lại rằng, trong khi du hành giữa dân chúng nước Câu-tát-la, đức Thế Tôn đi đến một ngôi làng nhỏ. Một vị điền chủ tại làng ấy đã thỉnh đức Thế Tôn đến nhà ông để thọ trai. Ông mời chư vị ngồi ở trong vườn, hoan hỷ cúng dường cho đức Phật và Tăng chúng, và sau đó cung kính thưa rằng nếu Tỳ-kheo nào muốn tản bộ trong khu vườn của ông thì hãy đi. Thế rồi các Tỳ-kheo đứng dậy và cùng với người làm vườn đi dạo trong khu vườn. Trong khi đi, các Tỳ-kheo nhìn thấy một đám đất trống không cây cối, bèn hỏi người làm vườn:

 – Thưa cư sĩ, trong vườn này những nơi khác đều có cây cối sum suê, nhưng ở đây không có cây cối gì cả. Tại làm sao vậy?

Người làm vườn trả lời:

 – Thưa các Tôn giả, khi khu vườn này được tạo lập, một đứa bé ở trong làng làm nhiệm vụ tưới nước đã nhổ những cây con ở chỗ này lên, và sau đó tùy theo kích cỡ rễ cây mà tưới nước ít hay nhiều. Do thế mà những cây con bị héo và chết. Đó là lý do khiến nơi này không có cây cối.

Các Tỳ-kheo đi đến đức Thế Tôn và bạch lại sự việc này. Đức Thế Tôn nói:

 – Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu cậu bé ở làng đó phá hỏng khu vườn, mà đời trước cậu ta cũng đã từng làm như vậy.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể một câu chuyện quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại (Benares), có một lễ hội được tổ chức ở kinh thành. Khi nghe những tiếng trống lễ hội bắt đầu được đánh lên, toàn thể dân chúng trong thành tập trung lại tham dự.

Bấy giờ, có một bầy khỉ đông đảo sống trong khu vườn của nhà vua. Người giữ vườn của nhà vua suy nghĩ: “Mọi người trong thành đang vui chơi lễ hội. Ta sẽ nhờ những con khỉ tưới nước, còn ta sẽ đến vui chơi lễ hội với mọi người. Nghĩ vậy, anh ta đi đến con khỉ chúa, trước tiên nói với nó rằng khu vườn này đem lại cho đàn khỉ của nó nhiều ích lợi, rằng chúng được ăn hoa trái và đọt non khi sống ở đấy. Sau đó kết thúc bằng cách nói:

 – Hôm nay có một lễ hội được tổ chức ở kinh thành và ta muốn đi đến đó để vui chơi. Không biết các ngươi có thể tưới những cây con trong khi ta đi vắng  được không?

 – Thưa được. Con khỉ nói.

 – Vậy các ngươi phải cẩn thận.

Người làm vườn nói, sau đó đưa cho những con khỉ túi da đựng nước và những thùng nước bằng gỗ để chúng làm công việc tưới cây, rồi ông ra đi.

Những con khi cầm lấy những bao da đựng nước cùng các thùng gỗ và bắt đầu tưới nước cho các cây con.

Khỉ chúa nói:

 – Này các vị, chúng ta không nên lãng phí nước. Khi các vị tưới, trước tiên hãy nhổ từng cây con lên để xem kích cỡ rễ của nó. Sau đó thấy rễ nào đâm sâu thì chúng ta tưới nhiều nước vào đó, còn rễ nào đâm cạn thì chúng ta tưới ít nước. Nếu tưới hết nước, chúng ta sẽ khó kiếm thêm.

Những con khỉ khác vâng lời và làm theo những gì được bảo.

Vào lúc ấy, có một người hiền trí đi đến đó, nhìn thấy những con khỉ cùng nhau làm công việc ấy thì hỏi chúng tại sao lại nhổ hết cây này đến cây khác và tưới nước theo kích cỡ rễ cây như vậy. Những con khỉ trả lời rằng bởi vì chúa khỉ khuyên chúng làm như thế. Người hiền trí nghe chúng trả lời như vậy thì suy nghĩ: “Những kẻ ngu si dầu muốn làm việc tốt, nhưng rồi lại làm điều tai hại.” Và ngài đọc lên bài kệ này:

Việc làm người có trí

Sẽ đem lại lợi ích

Người ngu làm hư hỏng

Bởi ngu xuẩn vô minh.

Bằng chứng những con khỉ

Giết chết các cây con.

Quở trách con khỉ đầu đàn như vậy rồi, người hiền trí cùng với đoàn tùy tùng ra khỏi khu vườn.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

 – Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ nay đứa bé trong làng này mới phá hỏng vườn đâu, mà đời trước cậu ta cũng đã làm như vậy.

Kết thúc Pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, đứa bé ở làng phá hỏng khu vườn này là con khỉ chúa, còn ta chính là người hiền trí.

Chuyện số 47: CHUYỆN RƯỢU (Tiền thân Vāruni)

Việc làm người có trí…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một người làm hư rượu. Tương truyền, Trưởng giả Cấp Cô Độc có một người bạn bán rượu. Người bạn này thường trữ sẵn một nguồn rượu có nồng độ mạnh để bán lấy tiền vàng và tiền bạc, và quán rượu của ông ta luôn đông khách. Một hôm, người chủ quán rượu đi tắm, sau khi bảo người học nghề rằng chỉ bán rượu cho những ai có tiền. Người học nghề trong khi phục vụ rượu cho khách, thấy khách gọi đem muối và đường cục lại rồi vừa ăn vừa uống thì suy nghĩ: “Rượu này chắc bị thiếu muối. Ta phải bỏ một số muối vào rượu mới được.” Thế rồi người này bỏ vào hủ rượu gần một cân muối và phục vụ cho khách. Và khách khi vừa hớp một ngụm, liền vội nhổ ra ngay, nói rằng:

 – Anh đã làm gì vậy?

Người học nghề trả lời:

 – Thấy các ông khi uống rượu của chúng tôi đã bảo đem muối lại nên tôi đã hòa một số muối vào trong đó.

 – Này anh chàng ngu ngốc, anh đã làm hư rượu ngon rồi đấy. Khách hàng kêu lên.

 Chê trách người ấy xong, họ đứng dậy và lần lượt rời khỏi quán rượu. Khi người chủ quán trở về, không nhìn thấy một người khách nào cả thì hỏi người học nghề họ đã đi đâu cả rồi. Người học nghề thuật lại những gì đã xảy ra. Người chủ mắng nhiếc kẻ ngu ngốc này và sau đó đi đến kể lại sự việc với Trưởng giả Cấp Cô Độc. Trưởng giả nghĩ đây là một câu chuyện hay cần phải kể nên đi đến tinh xá Kỳ Viên. Đến đấy, ông đảnh lễ đức Thế Tôn và kể lại toàn bộ câu chuyện.

Đức Thế Tôn nói:

 – Này cư sĩ, đây không phải lần đầu người học nghề này làm hư rượu đâu, mà đời trước chính người này cũng đã từng làm như vậy.

Rồi theo lời thỉnh cầu của trưởng giả Cấp Cô Độc, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát sanh làm vị Trưởng giả ở Ba-la-nại. Bấy giờ, có một người bán rượu sống nương nhờ vào sự bảo hộ của ngài. Người đàn ông này có trữ sẵn một nguồn rượu có nồng độ mạnh. Rồi trong khi đi tắm, ông bảo người học việc bán rượu. Người học việc trong khi chủ đi vắng, đã hòa muối với rượu, làm hư nó giống cùng cách như trên. Khi trở về và biết được những gì đã xảy ra, người chủ bèn đi đến kể lại câu chuyện cho Trưởng giả. Trưởng giả nói:

 – Thật đúng, kẻ ngu ngốc dầu muốn làm điều tốt nhưng rồi cũng làm điều có hại mà thôi.

Nói rồi, ngài đọc lên bài kệ này:

Việc làm người có trí

Sẽ đem lại lợi ích

Người ngu làm hư hỏng

Bởi ngu xuẩn vô minh.

Bằng chứng Kiều-trần-như (Koṇḍañña).

Đã bỏ muối vào rượu.

Bồ-tát đã thuyết pháp bằng bài kệ như vậy.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

 – Này cư sĩ, chính người này vào đời quá khứ cũng làm hư rượu như bây giờ vậy.

Rồi đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

 – Người làm hư rượu bây giờ cũng chính là người làm hư rượu vào thuở đó, còn ta chính là vị Trưởng giả của xứ Ba-la-lại.

Chuyện số 48: CHUYỆN BÀ-LA-MÔN TRÍ VÂN  (Tiền thân Vedabbaha)

Nếu nỗ lực tà quấy…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo ương ngạnh. Đức Thế Tôn nói với Tỳ-kheo này:

- Này Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu thầy ương ngạnh thôi đâu, mà vào đời trước thầy cũng đã có tính khí như vậy. Và cũng chính vì ương ngạnh không nghe theo lời khuyên của bậc hiền trí mà thầy đã bị chặt đứt làm đôi bằng một thanh gươm sắc và bị ném ra đường. Và cũng chính thầy là nguyên nhân khiến cho một ngàn người phải bỏ mạng.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), có một vị Bà-la-môn biết bùa chú tên là Trí Vân (Vedabbaha) sống tại một ngôi làng nọ. Tương truyền, bùa chú này có giá trị không thể tính được. Bởi vì mỗi khi có sự giao hội giữa các hành tinh, nếu ai đọc chú này và ngước nhìn lên trời thì ngay lập tức từ trên trời mưa xuống bảy loại châu báu gồm: vàng, bạc, ngọc, san hô, hổ phách, hồng ngọc và kim cương.

Bấy giờ, Bồ-tát là người học trò của vị Bà-la-môn này. Một hôm, vì có một số công việc, vị Bà-la-môn cùng với Bồ-tát đi đến nước Ceti. Có năm trăm tên cướp sống gần con đường đi ở trong một khu rừng. Chúng được gọi là những tên cướp “Phái đi”, những kẻ làm cho con đường không thể vượt qua được, và những tên cướp này đã bắt Bồ-tát và Bà-la-môn Trí Vân. Tại sao chúng được gọi là những tên cướp “Phái đi”? Bởi vì, người ta nói rằng, khi chúng bắt được hai người, chúng thường phái một người đi lấy tiền chuộc. Do vậy chúng được gọi là những tên cướp Phái đi. Nếu chúng bắt được hai cha con, chúng sẽ bắt người cha đi lấy tiền chuộc để giải thoát cho người con. Nếu chúng bắt được người mẹ và con gái, chúng sẽ đưa người mẹ đi lấy tiền. Nếu chúng bắt được hai anh em, chúng sẽ đưa người anh đi. Và cũng như vậy, nếu chúng bắt được hai thầy trò, chúng sẽ bắt người học trò đi. Do đó trong trường hợp này, chúng giữ Bà-la-môn Trí Vân lại và đưa Bồ-tát đi lấy tiền chuộc. Bồ-tát chào thầy và nói:

- Thưa thầy, con chắc chắn sẽ quay trở lại trong vòng một hai ngày tới. Thầy đừng sợ, xin hãy làm theo lời con. Hôm nay sẽ có sự giao hội giữa các hành tinh - sự việc đem lại mưa châu báu. Xin thầy lưu ý rằng, đừng vì không chịu nỗi tai nạn này mà đọc chú làm cho châu báu rơi xuống. Bởi vì, nếu thầy làm như vậy thì tai ương chắc chắn sẽ ập xuống thầy và cả băng đảng những tên cướp kia.

Khuyên thầy như vậy xong, Bồ-tát đi lấy tiền chuộc. Vào lúc hoàng hôn, những tên cướp trói vị Bà-la-môn lại và bắt ông nằm xuống. Đúng thời điểm ấy, mặt trăng tròn từ chân trời phương đông mọc lên. Vị Bà-la-môn quan sát bầu trời, khi biết rằng có một sự giao hội lớn đang xảy ra thì nghĩ: “Tại sao ta phải chịu đựng cảnh đau khổ này chứ? Nếu ta đọc thần chú thì sẽ gọi được mưa châu báu xuống, sau đó lấy châu báu này trả cho những tên cướp kia và tự do ra đi.” Thế nên ông nói với những tên cướp:

- Này các bạn, tại sao các bạn lại bắt tôi?

- Vì muốn lấy tiền chuộc. Chúng nói.

Bà-la-môn nói:

- Thôi được, nếu các bạn muốn tiền chuộc thì hãy mau cởi trói cho tôi, gội đầu, mang quần áo mới, xức nước hoa và trang điểm vòng hoa cho tôi, rồi sau đó để tôi một mình.

Những tên cướp làm theo điều vị Bà-la-môn bảo. Và vị Bà-la-môn khi nhận thấy sự giao hội của các hành tinh, đã ngước mặt lên trời và đọc lên bài chú của mình. Ngay lập tức, châu báu từ trên trời đổ xuống! Bọn cướp nhặt hết châu báu, lấy áo choàng của chúng gói châu báu lại thành từng bộc, rồi cùng nhau ra đi. Vị Bà-la-môn đi theo sau cùng. Nhưng số phận đẩy đưa, băng cướp này bị băng cướp thứ hai gồm năm trăm tên bắt lấy! Băng cướp thứ nhất hỏi băng cướp thứ hai:

- Tại sao các ông bắt chúng tôi?

- Tại vì muốn của báu mà các ngươi cướp được?

- Nếu các ông muốn của báu thì hãy bắt lấy vị Bà-la-môn kia. Ông ta chỉ cần nhìn lên trời là châu báu rời xuống như mưa. Chính ông ta đã cho chúng tôi tất cả những của báu này đấy.

Nghe thế băng cướp thứ hai đã để cho băng cướp thứ nhất đi. Sau đó chúng tóm lấy vị Bà-la-môn và nói:

- Hãy đưa cho bọn ta của báu như thế.

- Tôi rất muốn làm điều đó, nhưng phải một năm sau sự giao hội của các hành tinh mới xảy ra lại. Vậy nếu các ông muốn tài sản thì xin hãy chờ đợi. Lúc ấy tôi sẽ cầu mưa báu xuống cho các ông.

- A, gã Bà-la-môn đểu giả! Ngươi làm cho băng cướp kia có châu báu ngay, trong khi muốn bọn ta phải đợi tròn một năm!

Những tên cướp giận giữ kêu lên, sau đó dùng gươm chặt đôi vị Bà-la-môn và ném ông ra giữa đường. Rồi chúng vội vã đuổi theo băng cướp thứ nhất, xông vào giết hết cả băng cướp này và đoạt lấy của báu. Kế tiếp, chúng chia băng đảng thành hai phe để đánh nhau cho đến khi hai trăm năm mươi người bị giết chết. Và cứ như thế, chúng tiếp tục chém giết lẫn nhau cho đến khi chỉ còn lại hai người sống sót. Một ngàn người đó đã đi đến chỗ diệt vong như vậy.

Bấy giờ, khi hai hai tên sống sót này mang số báu vật đi, chúng giấu châu báu ở trong một khu rừng gần một ngôi làng. Một tên ngồi tại đó cầm gươm canh giữ, còn một tên đi vào làng kiếm gạo nấu cơm cho bữa ăn tối.

Tên ở lại canh báu vật suy nghĩ: “Tham lam là nguồn gốc của sự hủy diệt. Khi người kia về, anh ta sẽ chia đôi số tài sản này. Do đó ta sẽ giết anh ta ngay khi anh ta trở về.” Vì thế anh ta rút gươm ngồi đợi người bạn của mình trở lại.

Trong khi ấy, người kia cũng ngẫm nghĩ: “Số tài sản đó phải bị chia đôi. Ta phải bỏ thuốc độc vào cơm, cho anh ta ăn để giết chết anh ta mới được. Và như vậy toàn bộ số báu vật đó sẽ thuộc về ta.” Do vậy khi cơm chín, trước tiên anh ta ăn phần của mình, sau đó bỏ thuốc độc vào phần cơm còn lại và mang trở lại rừng. Nhưng khi anh ta đặt cơm xuống, tên cướp kia đã dùng gươm chặt đôi anh ta và dấu xác vào một nơi khuất kín. Sau đó tên cướp này ăn phần cơm có thuốc độc và rồi bị chết ngay tại chỗ. Như vậy, bởi vì báu vật, không chỉ một mình vị Bà-la-môn mà tất cả bọn cướp đều bị diệt vong.

Hai ba ngày sau, Bồ-tát mang tiền chuộc trở lại nhưng không tìm thấy thầy mình tại chỗ ấy mà chỉ thấy báu vật rơi vãi đầy mặt đất. Bồ-tát nghĩ rằng chắc chắn thầy mình đã không nghe theo lời khuyên của mình, cho gọi mưa báu từ trời xuống và kết quả là tất cả đều bị diệt vong.

Rồi Bồ-tát đi dọc theo con đường ấy. Trên đường đi, ngài nhìn thấy thi thể của thầy mình bị chặt đứt làm đôi vứt bỏ trên đường. Ngài than: “Ôi, ông ấy bị chết bởi không nghe theo lời cảnh báo của ta.” Sau đó, ngài gom củi lại làm thành một giàn thiêu và hỏa táng thi thể thầy mình, rồi hái những bông hoa rừng dâng cúng. Đi thêm một đoạn nữa, ngài nhìn thấy năm trăm tên cướp “Phái đi”; thêm một đoạn nữa thì gặp hai trăm năm mươi tên; và tiếp tục như vậy cho đến khi tới nơi chém giết cuối cùng. Nhận thấy rằng, trừ hai người, còn bọn cướp một ngàn tên đều bị giết cả, Bồ-tát nghĩ rằng chắc chắn có hai tên còn sống sót, và rằng chúng không thể không tranh chấp nhau, nên ngài vội vã tìm nơi chúng đã đi. Ngài tiếp tục đi cho đến khi tìm thấy con đường mà hai tên cướp đã mang kho báu đi vào rừng. Rồi ở đó, ngài nhìn thấy một đống những bộc châu báu, và cận đó là một tên cướp đang nằm chết bên bát cơm đổ úp. Nhận biết toàn bộ sự việc, Bồ-tát liền đi tìm tên bị mất tích và cuối cùng tìm thấy thi thể của y bị vứt ở một nơi khuất kín. Bồ-tát suy nghĩ: “Thầy ta vì tính ương ngạnh không nghe theo lời khuyên của ta nên bị đưa đến sự diệt vong, không chỉ riêng bản thân mình mà một một ngàn người khác cũng bị. Sự thật, ai tìm tài sản cho mình bằng những phương tiện sai lầm và tà vạy thì đều gặt lấy sự diệt vong giống như thầy của ta vậy.” Và ngài đọc lên bài kệ này:

Nếu nỗ lực tà quấy

Cầu lợi sẽ bị hại

Như cướp giết Trí Vân

Cuối cùng bị giết lại.

Đọc bài kệ xong, Bồ-tát tiếp tục nói: “Giống như sự nỗ lực sai lầm và không đúng chỗ của thầy ta trong việc làm cho mưa báu từ trên trời rơi xuống đã tự huỷ diệt bản thân mình và làm cho người khác cùng chịu sự diệt vong, cũng vậy, những ai phương tiện không chân chánh lại mong muốn đi tìm mối lợi cho bản thân thì nhất định sẽ bị diệt vong và kéo theo người khác cùng bị diệt vong.”

Với những lời này, Bồ-tát đã làm cho cả khu rừng vang dậy. Và Bồ-tát đã thuyết Pháp bằng bài kệ này trong sự hò reo tán thán của các thần cây. Sau đó, Bồ-tát mang châu báu về nhà, thực hành bố thí và làm các việc lành khác cho đến cuối đời, rồi đến khi mạng chung đã sanh về thiên giới.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

- Này Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu thầy ương ngạnh thôi đâu, mà đời trước thầy cũng đã từng ương ngạnh như vậy. Và bởi sự ương ngạnh của mình mà thầy đã chịu sự việt vong.

Kết thúc Pháp thoại, đức Thế Tôn liên kết hai câu chuyện lại và nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Tỳ-kheo ương ngạnh là Bà-la-môn Trí Vân, còn ta chính là học trò của ông.

Chuyện số 49: CHUYỆN CÁC VÌ SAO (Tiền thân Nakkhatta)

Kẻ ngu chờ ngày lành…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một vị ngoại đạo tà mạng. Chuyện kể rằng, có một thiện nam tử sống ở miền quê đã hỏi cưới cho con trai của mình một cô gái môn đăng hộ đối ở thành Xá-vệ. Thế rồi khi ngày rước dâu đã được định đâu vào đấy, ông lại đi hỏi một vị ngoại đạo tà mạng thân thiết với gia đình rằng vào ngày tổ chức lễ cưới các vị sao có thuận không. Khi nghe hỏi thế, vị ngoại đạo tà mạng này suy nghĩ: “Người này trước đây không chịu hỏi ta mà đã tự định ngày, bây giờ lại hỏi ta một cách rỗng tuếch như thế. Được, ta sẽ dạy cho y một bài học.” Vì thế vị này trả lời rằng vào ngày tổ chức lễ cưới các ngôi sao không tốt, không nên tổ chức lễ cưới vào ngày đó, và rằng nếu tổ chức thì sẽ gặp tai họa khủng khiếp. Gia đình ở miền quê tin lời vị ngoại đạo nên vào ngày ấy đã không đi rước dâu. Trong khi đó thân hữu của nhà gái ở thành thị đã chuẩn bị tất cả mọi thứ cho việc tổ chức lễ cưới. Và khi nhận thấy rằng phía nhà nam không đến, họ nói:

- Chính họ đã định ngày hôm nay làm lễ cưới, thế mà bây giờ họ lại không đến. Họ đã khiến chúng ta bị hao tổn rất nhiều. Họ là hạng người gì vậy? Chúng ta hãy gả con gái chúng ta cho một người khác thôi.

Vì thế họ tìm cho con gái mình một vị hôn phu khác và tổ chức lễ cưới bằng tất cả những gì đã được chuẩn bị.

Ngày hôm sau, đám người ở miền quê đi đến rước dâu. Nhưng những người sống ở Xá-vệ đã xỉ vả họ như sau:

- Dân quê các ông là bọn người xấu. Các ông đã tự định ngày cưới, và thế rồi lại xúc phạm chúng tôi bằng cách không đến rước dâu. Chúng tôi đã gả con gái chúng tôi cho người khác rồi.

Đám người ở miền quê bắt đầu tranh cải, nhưng rốt cuộc thì cũng phải lên đường trở về.

Bấy giờ, Các Tỳ-kheo biết rõ việc vị ngoại đạo tà mạng kia ngăn cản đám cưới, và chư vị bắt đầu bàn luận chuyện này trong Chánh pháp đường. Đức Thế Tôn đi vào, nghe họ bàn luận sự việc ấy thì nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên vị ẩn sĩ này làm trở ngại lễ cưới của gia đình kia đâu, mà trước đây vì tức giận họ, vị này cũng đã từng làm như vậy.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ dưới đây.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Bramadatta) trị vì xứ Ba-la-nại, có một người ở thị thành đã hỏi một cô gái ở miền quê làm vợ và định ngày kết hôn. Sau khi mọi việc đã được sắp xếp đâu vào đấy, người ở thành thị lại hỏi một vị ngoại đạo thân quen với gia đình mình rằng vào ngày tổ chức lễ cưới các ngôi sao có tốt không. Hờn giận vì họ đã tự định ngày cưới mà trước đó không hỏi ý kiến của mình, vị này quyết định làm cản trở lễ cưới được tổ chức vào ngày đó. Và vì thế ông ta trả lời rằng vào ngày đó các ngôi sao không tốt, và rằng nếu họ khăng khăng làm như vậy thì họ sẽ gặp tai họa khủng khiếp. Thế rồi tin theo lời vị ngoại đạo, những người ở thành thị đã ở nhà không đi rước dâu! Khi những người ở miền quê nhận thấy những người ở thành thị không đến, họ nói với nhau:

- Chính họ đã định hôm nay làm lễ cưới, vậy mà bây giờ họ lại không đến. Họ là thứ người gì vậy?

Và thế là họ gả cô con gái cho một người khác. Vào ngày hôm sau, những người ở thành thị đi đến xin đón dâu, nhưng những người ở miền quê nói:

- Những người thành thị các vị thật thiếu đúng đắn. Chính các vị đã tự định ngày cưới, và thế rồi lại không đến đón dâu. Vì các vị không đến nên chúng tôi đã gả con gái chúng tôi cho người khác rồi.

- Vì chúng tôi hỏi vị đạo sĩ của chúng tôi, và ông ấy nói với chúng tôi là những ngôi sao không tốt. Vì lý do đó mà hôm qua chúng tôi không đến đón dâu được. Xin trao cô gái cho chúng tôi!

- Các vị không đến đúng giờ nên bây giờ cô ta là người của người khác rồi. Chúng tôi có thể làm đám cưới cho cô ta lần thứ hai được sao?

Trong khi họ đang cãi nhau như vậy thì có một người hiền trí vì một vài công việc đã từ thành phố đến miền quê ấy. Nghe những người ở thị thành giải thích rằng họ đã hỏi ý kiến vị đạo sĩ của họ, và rằng họ không có mặt là do hướng của các ngôi sao không tốt, vị hiền trí nói:

- Các ngôi sao thì có nghĩa lý gì chứ? Không phải việc đón một cô gái là một điều lành rồi sao?

Nói vậy xong, người hiền trí đọc lên bài kệ này:

Kẻ ngu chờ ngày lành

Nhưng điều lành mất đi

Điều lành là sao tốt

Sao thôi làm được gì?

Những người ở thành thị dù có tranh cãi thì cũng không đón được cô gái, vì thế đành phải quay trở về.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu vị ngoại đạo tà mạng đó ngăn cản lễ cưới của gia đình kia, mà trước đây vị này cùng đã từng làm như vậy.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

- Vị ngoại đạo này chính là người ngoại đạo thuở đó, các gia đình cũng như thế, còn ta chính là người hiền trí đã đọc lên bài kệ.

Chuyện số 50: CHUYỆN KẺ VÔ TRÍ (Tiền thân Dummedha)

Ngàn người vô trí làm điều ác…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những hành vi được làm vì lợi ích cuộc đời. Những tình tiết của câu chuyện sẽ được kể ở Tiền thân Mahā-Kaṇha, số 469, Tập Mười hai.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát nhập thai hoàng hậu của vua này, sau đó xuất sanh và được đặt tên là hoàng tử Phạm Dự vào ngày lễ đặt tên. Năm mười sáu tuổi, Bồ-tát được giáo dục chu đáo tại Xoa-thi-la (Takkasīlā). Ngài thấu suốt ba bộ Vệ-đà và thành thạo mười tám ngành học thuật, và rồi được phụ vương ban cho làm Phó vương.

Bấy giờ, dân chúng Ba-la-nại thường tổ chức nhiều buổi lễ tế thần, và bày tỏ lòng tôn kính đối với chư thần. Họ có thói quen giết nhiều cừu, dê, gà vịt, heo.v.v. và thực hiện nghi lễ của họ không chỉ bằng hoa và nước hoa, mà còn bằng cả xác sinh vật đầy máu nữa. Bồ-tát suy nghĩ: “Nay phần lớn dân chúng đi lạc vào mê tín, sống phi pháp, cố tình sát hại sinh vật để cúng tế. Sau này khi phụ vương băng hà, lúc ta được thừa kế vương quốc, ta sẽ tìm phương cách chấm dứt việc sát hại mạng sống này. Ta sẽ bày ra những phương kế khéo léo để nhờ đó tội ác được ngăn chặn nhưng vẫn không làm hại đến một người nào.

Bằng cách thức này, một hôm nọ, hoàng tử đánh xe của mình dạo quanh kinh thành. Trên đường đi, hoàng tử nhìn thấy một đám đông tập họp lại tại một cây đa linh thiêng để cầu xin vị thần sống ở cây đó ban cho họ con trai, con gái, danh vọng, tài sản… tuỳ theo sự mong muốn của mỗi người. Bồ-tát bước xuống ngựa, đi gần đến cây đó. Và hành động như một người sùng bài thần linh, ngài dâng cúng nước hoa, vòng hoa, dùng nước rảy vào cây, và cung kính đi nhiễu quanh cây. Sau đó bước lên xe, hoàng tử khởi hành trở lại kinh thành.

Từ ngày đó, hoàng tử thỉnh thoảng đi đến cây ấy, bái lạy cây như một tín đồ thờ thần thực sự.

Một thời gian sau, khi phụ vương băng hà, Bồ-tát lên ngôi vua và trị vì vương quốc. Bồ-tát từ bỏ bốn ác đạo, thực hành mười vương pháp và cai trị thần dân bằng sự công chính. Như vậy, ước nguyện kế vị ngôi vua của Bồ-tát đã thành tựu, và rồi ngài quyết tâm thực hiện cho bằng được ý định trước đây của mình. Vì thế, Bồ-tát cho tập họp các triều thần, Bà-la-môn, quý tộc, gia chủ lại và hỏi họ rằng họ có biết dự định của ngài trước khi lên làm vua là gì không. Nhưng không một ai biết.

- Các khanh không thấy trẫm thường cung kính lễ bái cây đa, dâng nước hương, vòng hoa… và đảnh lễ cây đó sao?

- Tâu hoàng thương, chúng thần có thấy. Họ nói.

- Vâng, trẫm có phát một lời nguyện rằng: nếu được kế vị ngôi vua, trẫm sẽ dâng cúng cây đó. Và giờ đây nhờ sự giúp đỡ của thần cây, trẫm đã thừa kế được vương vị. Bây giờ trẫm sẽ thực hiện sự hiến cúng như đã hứa, vì thế các khanh hãy nhanh chóng chuẩn bị các thứ.

- Nhưng chúng thần phải chuẩn bị những gì?

- Ước nguyện của ta là: tất cả những ai thích phạm năm ác giới như sát sanh... và thực hành mười tà đạo, ta sẽ giết chết họ để lấy thịt và máu dâng cúng cho thần cây. Vì thế hãy đánh trống công bố rằng: vua chúng ta khi còn là phó vương có phát nguyện rằng, nếu về sau ngài lên ngôi vua, nếu có ai phạm giới ngài sẽ cho giết chết và đem hiến cúng thần linh. Và bây giờ nhà vua muốn giết một ngàn người thích làm năm ác giới hoặc thực hành mười tà đạo để lấy tim và thịt của họ đem hiến cúng cho thần linh. Xin công bố cho tất cả kinh thành biết rõ sự việc này.

Rồi nhà vua nói thêm:

- Bắt đầu từ hôm nay, đối với những ai phạm giới, ta sẽ giết một ngàn người để hiến cúng cho thần linh nhằm hoàn thành lời nguyện của ta.

Và để làm sáng tỏ ý nghĩa, nhà vua đọc lên bài kệ này:

Ngàn người vô trí làm điều ác

Trẫm phát nguyện giết để hiến thần

Nay có nhiều người làm việc ác

Lời nguyện giờ đây sẽ hoàn thành.

Vâng theo lệnh của vua, các triều thần cho đánh trống thông báo khắp thành Ba-la-nại. Và như vậy, nhờ ảnh hưởng của lời thông báo đó mà không còn một thị dân nào dám tiếp tục làm điều ác trước đây nữa. Và trong suốt thời gian Bồ-tát trị vì, không có một người nào dám làm điều ác. Như vậy, không làm hại một thần dân nào, Bồ-tát khiến cho họ thọ trì các giới luật. Rồi kết thúc một đời làm việc bố thí và thực hành thiện nghiệp, Bồ-tát đã cùng với hội chúng của mình thọ sanh về đầy cả kinh đô thiên giới.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu Như Lai làm điều lợi ích cho đời, mà trước đây Như Lai cũng đã từng làm như thế.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn liên kết hai câu chuyện lại và nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, đệ tử của Như Lai là các triều thần, còn Như Lai chính là vua Ba-la-nại.

Chương I        Chương II       Chương III       Chương IV        Chương V    

Chương VI     Chương VII     Chương VIII     Chương IX        Chương X

Chương XI     Chương XII     Chương XIII     Chương XIV     Chương XV

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Hội PG Thảo Đường


  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp   


    Lịch sinh hoạt Phật sự

        

      Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem chi tiết lịch sinh hoạt  

      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh   


       

      Tôn ảnh Phật ngọc

       

       

         Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

      Đọc tiếp   

       

      Các trang web liên kết