CHUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

Tập 1 - Chương II -  Phẩm giới hạnh

Chuyện số 11: CHUYỆN CON NAI THÙY TƯỚNG (Tiền thân Lakkhana)

Người có đạo đức được trường cữu…

Tại tinh xá Trúc Lâm, gần thành Vương Xá (Rājagaha), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Đề-bà-đạt-đa (Devadatta). Câu chuyện về Đề-bà-đạt-đa khi làm một vị tướng cướp mục đích muốn sát hại đức Phật, sẽ được thuật lại trong Tiền thân Khaṇḍahāla, số 542; khi bị sa thải khỏi chức vụ Tài quan, sẽ được thuật lại trong Tiền thân Cullahamsa, số 533; và khi bị đất nuốt chửng, sẽ được thuật lại trong Tiền thân Samudda-vāṇija, số 466, Tập XVI.

Một dịp nọ, Đề-bà-đạt-đa đi đến đức Phật để thỉnh nguyện năm điều kiện (ngũ tà), nhưng hoàn toàn không được Ngài chấp nhận. Vì thế, ông đã phá hòa hợp Tăng và sau đó cùng với năm trăm Tỳ-kheo bỏ đến sống tại Gayā-sīsa. Bấy giờ, khi biết trí tuệ của các Tỳ-kheo này đã được thuần thục, đức Thế Tôn cho gọi hai bậc Thượng thủ đệ tử đến và nói:

 – Này Xá-lợi-phất, năm trăm học trò của thầy, đã tán đồng tà kiến của Đề-bà-đạt-đa và bỏ đi cùng với ông ta bây giờ trí tuệ của họ đã thuần thục. Thầy hãy cùng với một số Tỳ-kheo đi đến đó, thuyết Pháp, khai ngộ Đạo và Quả cho các Tỳ-kheo lạc lối này và đưa họ trở về đây.

Xá-lợi-phất cùng với các Tỳ-kheo đi đến đó, thuyết Pháp và khai ngộ Đạo và Quả cho các Tỳ-kheo lầm lạc này, rồi rạng đông ngày hôm sau, cùng với họ quay trở lại Trúc Lâm. Sau khi quay trở về, Tôn giả Xá-lợi-phất đảnh lễ đức Thế Tôn. Và trong khi đang đứng ở đấy, các Tỳ-kheo đã tán thán Trưởng lão Xá-lợi-phất:

– Bạch Thế Tôn, oai quang của pháp huynh chúng con, bậc Tướng Quân Chánh Pháp thật sáng chói khi đã trở về cùng với hội chúng năm trăm Tỳ-kheo; trong khi Đề-bà-đạt-đa đã mất hết những người đi theo mình.

Đức Thế Tôn nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất Xá-lợi-phất cùng với hội chúng thân quyến của mình quay trở về trong oai quang sáng chói, mà vào đời trước, thầy ấy cũng đã trở về trong oai quang sáng chói như vậy.

Các Tỳ-kheo thỉnh cầu đức Thế Tôn giảng giải điều đó cho họ. Và đức thế tôn đã trình bày rõ ràng vấn đề bị che lấp do vì tái sinh.

* * *

Thuở xưa, vua Ma-kiệt-đà trị vì thành Vương Xá (Rājagaha), thuộc vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha). Bấy giờ, Bồ-tát sanh vào đời làm một chú Nai. Khi trưởng thành, Bồ-tát sống trong rừng, là vị lãnh đạo của đàn nai một ngàn con. Bồ-tát có hai người con nhỏ tên là Thụy Tướng (Lakkhana) và Hắc Ám (Kala). Khi đến tuổi già, Bồ-tát giao trách nhiệm của mình cho hai con. Bồ-tát giao cho mỗi con chăm sóc năm trăm con nai. Từ đó, hai con nai trẻ này phụ trách đàn nai.

Khi vụ mùa thu hoạch ở Ma-kiệt-đà đến, cây trồng mọc dày trong những cánh đồng, là thời điểm thật nguy hiểm cho đàn nai trong rừng. Nóng lòng muốn giết những sinh vật phá hoại mùa vụ của họ, những nông phu đã đào những hầm bẫy, đống những cộc bẫy, đặt những bẫy đá, giăng những bẫy lưới và những thứ bẫy khác. Như thế, có nhiều con nai bị giết chết.

Do đó, khi nhận thấy vụ mùa đến, Bồ-tát gọi hai con đến và nói với họ:

– Này hai con, bây giờ là thời điểm thu hoạch vụ mùa, và có nhiều con nai gặp phải chết chóc vì lý do này. Ta nay đã già, sẽ tìm cách để ở lại một chỗ. Còn hai con hãy cùng với đàn nai của mình, đến trú ở những vùng núi non trong rừng sâu và quay trở về khi nào mùa vụ đã được thu hoạch xong.

– Vâng, thưa cha.

Hai con của Bồ-tát vâng theo lời khuyên của cha đã cùng với đàn nai của mình ra đi.

Bấy giờ, những người sống dọc theo con đường mà đàn nai đi, biết rõ thời điểm khi nào những con nai đi lên núi và khi nào ở nơi đó chúng quay trở về. Vì thế, tại những nơi ẩn náu đây đó, họ nằm chờ đợi dọc theo con đường đàn nai đi, bắn và giết một số trong chúng. Con nai Hắc Ám ngu si, không biết lúc nào nên đi và lúc nào nên dừng lại, nên cứ đưa đàn nai của mình đi gần sát ngồi làng, bất kể sớm hay chiều, bất kể rạng đông hay hoàng hôn. Và những nông phu, hoặc mai phục, hoặc công khai, đã giết chết rất nhiều những con nai của đàn nai này. Như vậy, bởi sự ngu si đần độn, con nai Hắc Am đã gây ra sự diệt vong cho nhiều con nai khác, và chỉ còn một số rất ít cùng với nó đi vào rừng.

Ngược lại, nai Thùy Tướng thông minh và tinh khôn, đầy đủ tài trí, không bao giờ đi gần biên ngôi làng. Nai không đi vào ban ngày, thậm chí không đi vào lúc rạng đông hay hoàng hôn, mà chỉ đi vào lúc nửa đêm, và kết quả là nó đi đến được khu rừng mà không đánh mất một con nai nào của mình. Chúng sống bốn tháng trong rừng, không rời khỏi những ngọn đồi cho đến khi mùa vụ đã thu hoạch xong.

Trên đường trở về nhà, nai Hắc Ám, bằng cách lập lại việc làm ngu ngốc của mình trước đây, đã làm hại luôn những con nai còn lại, để rồi cuối cùng một thân một mình quay trở về. Ngược lại, nai Thùy Tướng không đánh mất một con nai nào trong đàn của mình, đã đưa toàn bộ năm trăm con nai trở về trình diện với cha mẹ. Khi nhìn thấy hai con quay trở về, Bồ-tát đọc lên bài kệ liên hệ với đàn nai:

Người có đạo đức được trường cữu

Người có từ ái được phồn vinh

Thùy Tướng trở về cùng quyến thuộc

Trong khi Hắc Ám hại đàn mình.

Bồ-tát chào đón hai con bằng bài kệ như vậy. Rồi Bồ-tát sống đến già, sau đó qua đời và tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại, sau khi nhắc lại rằng vào đời quá khứ Xá-lợi-phất cũng đã có oai quang sáng chói và Đề-bà-đạt-đa cũng đã đánh mất tất cả như ở hiện tại, đức Thế Tôn nêu kên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là nai Hắc Ám, những người đi theo ông ta là những con nai đi theo nai Hắc Ám; Xá-lợi-phất là nai Thụy Tướng, và những con nai đi theo con nai này là đệ tử của Phật; mẹ của La-hầu-la là nai mẹ; còn ta là nai cha.

Chuyện số 12: CHUYỆN CON NAI NI-CÂU-LƯU-ĐÀ (Tiền thân Nigrodhamiga)

Sống với nai Ni-câu-lưu-đà…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về mẹ của Trưởng lão Cưu-ma-la-ca-diếp (Kumarakassapa). Nghe nói rằng, con gái của đại phú thương ở thành Vương-xá (Rājagaha), tích tập thiện hạnh, từ bỏ tất cả các việc thế gian, đã đạt đến đời sống cuối cùng của mình. Và giống như ngọn đèn ở trong một cái bình, nội tâm cô bừng sáng niềm khát vọng chứng đắc Thánh quả A-la-hán. Từ khi thấu hiểu được mình, cô không còn tìm thấy niềm vui trong đời sống thế gian mà khao khát được xuất gia, và cô đã thưa với song thân của mình ý nguyện này:

 – Thưa cha mẹ, lòng con không còn tìm thấy niềm vui trong đời sống thế gian. Con muốn xuất gia sống theo giáo pháp của đức Phật. Xin cho phép con được thực hiện ý nguyện này.

 – Con gái, con nói gì vậy? Gia đình chúng ta rất giàu có, và con là con gái duy nhất của cha mẹ. Con không thể thực hiện ý nguyện đó được.

Không được cha mẹ bằng lòng, dầu cô lập đi lập lại lời thỉnh cầu nhiều lần, cô suy nghĩ: “Việc không thể khác được. Vậy khi nào lấy chồng, được chồng cho phép, ta sẽ thực hiện ý nguyện của mình.” Rồi khi trưởng thành, cô đi về nhà chồng. Sống trong nhà chồng, cô luôn thể hiện là một người vợ tận tâm, sống một cuộc đời thiện lành và giới hạnh. Thế rồi cô mang thai, nhưng cô không biết điều đó.

Bấy giờ, có một lễ hội được tổ chức tại kinh thành đó, và dân chúng đến tham dự lễ hội. Kinh thành được trang hoàng giống như kinh thành của chư thiên. Nhưng cô, ngay cả vào thời điểm vui nhất của lễ hội, vẫn không xức dầu thơm hay ăn bận trang phục lộng lẫy. Cô đi dự hội bằng trang phục thường ngày của mình. Thấy thế, chồng của cô nói với cô:

– Hiền thê, mọi người đang vui chơi lễ hội, còn nàng lại không ăn mặc cho đẹp đẽ.

Cô trả lời:

 – Phu quân, thân thể có đầy đủ ba mươi hai thành phần cấu thành. Vậy tại sao lại trang điểm nó? Thân xác này không phải do chư thiên hoá sanh, không phải được làm bằng vàng, bằng ngọc, hay bằng gỗ đàn hương màu vàng; cũng không từ lòng hoa sen trắng, đỏ hay xanh sanh ra; cũng không chứa được thứ hương thơm bất tử nào, mà thân thể này do ô nhiễm cấu thành, do cha mẹ sanh ra. Những đặc tính đó cho thấy rằng nó luôn bị bào mòn, bị vô thường tàn phá và huỷ diệt, nhất định bị trương phồng lên nơi nghĩa địa. Nó là nơi để ái dục chấp thủ, là nguồn gốc của sầu khổ, là nguyên nhân của bi ai, là nơi cư trú của tất cả bệnh tất, và là kho chứa của nghiệp lực. Những bất tịnh bên trong chúng luôn bài tiết ra. Đúng vậy, như cả thế giới có thể nhìn thấy, kết cục của nó là cái chết, bị đưa đến nghĩa địa, trú xứ của loài côn trùng. Vậy thưa phu quân, thiếp trang điểm thân thể này để làm đích gì? Có phải trang điểm thân này cũng giống như trang điểm bên ngoài một cái bình chứa phân?

Người chồng trẻ trả lời:

 – Hiền thê, nếu nàng xem thân thể này đầy tội lỗi như vậy, thế tại sao nàng không xuất gia?

 – Phu quân, nếu chàng cho phép, thiếp sẽ thực hiện ý nguyện này chính trong ngày nay.

– Rất tốt, tôi sẽ cho phép nàng xuất gia.

Rồi sau khi thực hiện đại thí và cúng dường nhiều phẩm vật cho Tăng đoàn, người phú thương trẻ cùng với một đoàn tuỳ tùng đông đảo đưa cô đi đến tịnh xá ni và cho cô xuất gia, nhưng cô đã xuất gia ở tinh xá ni thuộc phái Đề-bà-đạt-đa. Cô rất vui sướng khi thực hiện được ý nguyện của mình và trở thành một Tỳ-kheo ni.

Bấy giờ, thai nhi trong cô ngày càng lớn dần. Các Tỳ-kheo ni nhận thấy sự thay đổi nơi cơ thể cô, thấy tay và chân của cô sưng tẩy và to thêm lên, bèn nói:

– Hiền muội, dường như hiền muội sắp trở thành một người mẹ. Tại làm sao vậy?

– Thưa các Hiền tỷ, em không biết. Em chỉ biết là mình đã sống đời phạm hạnh.

Thế rồi các Tỳ-kheo ni đưa cô đến gặp Đề-bà-đạt-đa và thưa:

 – Thưa Thánh giả, cô gái trẻ hiền lương này xuất gia làm Tỳ-kheo ni với sự cho phép miễn cưỡng của chồng nay lại có thai. Chúng con không biết có phải cô ấy đã mang thai trước khi xuất gia hay không? Bây giờ chúng con phải làm gì?

Không phải là một bậc Giác ngộ, và không có chút từ bi, từ ái nào, Đề-bà-đạt-đa suy nghĩ thế này: “Một Tỳ-kheo ni của ta mang thai và ta đã dung thứ, điều đó sẽ là một tin đồn tai hại khi nó phát tán ra ngoài. Ta phải giải quyết điều này rõ ràng – phải đuổi nữ nhân này ra khỏi giáo đoàn.” Không cần điều tra gì cả, bắt đầu giống như xô một tảng đá, ông ta nói:

– Hãy đuổi nữ nhân này đi ngay lập tức!

Nhận được câu trả lời này, các Tỳ-kheo ni đứng dậy, cung kính đảnh lễ, rồi trở về tịnh xá của họ. Bấy giờ, người thiếu phụ nói với các Tỳ-kheo ni đó:

 – Thưa các Ni sư, Trưởng lão Đề-bà-đạt-đa không phải là một bậc Giác ngộ. Con xuất gia không phải với Đề-bà-đạt-đa mà xuất gia với đức Phật, bậc Tối thượng trong đời. Đừng tước đi của con điều mà khó khăn lắm con mới có được, xin hãy đưa con đến tinh xá Kỳ Viên gặp đức Thế Tôn.

Vì thế, họ đưa cô lên đường đi đến tịnh xá Kỳ Viên. Từ thành Vương-xá, họ vượt qua hơn bốn mươi lăm dặm đường và đến tịnh xá Kỳ Viên. Đến nơi, sau khi cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn, họ bạch vấn đề với Ngài.

Đức Thế Tôn nghĩ: “Cô này đã mang thai khi còn là một cư sĩ. Tuy thế, điều này sẽ tạo cơ hội cho các tu sĩ ngoại đạo nói rằng Sa-môn Gô-ta-ma đã thâu nhận một Tỳ-kheo ni mà Đề-bà-đạt-đa đuổi. Do đó, để cắt bỏ câu chuyện, trường hợp này phải được nhà vua và các triều thần giải quyết.” Vì thế, vào ngày hôm sau, Thế Tôn cho mời vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) nước Câu-tát-la (Kosala), trưởng giả Đại Cấp-cô-độc (Anātha-piṇḍka), trưởng giả Tiểu Cấp-cô-độc, đại tín nữ Tỳ-xá-khư (Visākhā), và các trưởng giả danh tiếng khác. Và vào buổi chiều, khi tất cả bốn chúng đệ tử tập họp lại - Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Cư sĩ nam và Cư sĩ nữ, Ngài nói với Tôn giả Ưu-bà-li (Upāli):

 – Hãy đi làm sáng tỏ vấn để của Tỳ-kheo ni trẻ này trước bốn chúng đệ tử của ta.

 – Con sẽ giải quyết vấn đế đó, bạch Thế Tôn.

Tôn giả nói và đi ra trước hội chúng. Ở đấy, ngồi vào nơi dành cho mình, Tôn giả gọi đại tín nữ Tỳ-xá-khư đang ngồi trước nhà vua, giao nhiệm vụ điều tra này cho bà và nói:

 – Tín nữ Tỳ-xá-khứ, trước tiên bà hãy xác định ngày tháng chính xác mà cô này xuất gia, và từ đó ước tính xem cô này đã mang thai trước hay sau ngày xuất gia

Vâng lời, Tín nữ cho căng một bức màn che, rồi cùng với cô gái đi ra phía sau bức màn đó. Bà kiểm tra tay, chân, lỗ rốn, bụng và nhiều bộ phận khác. Khi so sánh ngày tháng, tín nữ nhận thấy rằng cô gái đã mang thai trước khi xuất gia làm Tỳ-kheo ni. Bà bạch lại với Tôn giả điều này. Trước hội chúng, Tôn giả tuyên bố rằng Tỳ-kheo ni này thanh tịnh. Và cô, khi sự thanh tịnh của mình đã được xác minh, đã cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn và Tăng chúng, rồi sau đó cùng với các Tỳ-kheo ni quay trở về tịnh xá của mình.

Khi ngày tháng đầy đủ, cô sinh được một bé trai phước tướng. Có được đứa con đó là nhờ đời trước cô đã cầu nguyện dưới chân đức Phật Liên Hoa (Padumuttara).

Một hôm, khi nhà vua đi ngang qua tịnh xá ni, ông nghe tiếng khóc của một đứa trẻ và hỏi các triều thần duyên cớ. Biết rõ vấn đề sự việc, họ thưa với vua rằng tiếng khóc đó là của một đứa trẻ do một Tỳ-kheo ni trẻ sinh ra.

Nghe thế, nhà vua nói:

 – Này các thần, nuôi trẻ con là một trở ngại cho các Tỳ-kheo ni sống đời xuất gia. Chúng ta hãy chăm sóc đứa trẻ này.

Vì thế, theo lệnh của nhà vua, đứa bé được trao cho các phụ nữ thân quyến và được nuôi dưỡng như một vị hoàng tử. Vào ngày lễ đặt tên, cậu bé được đặt tên là Ca Diếp (Kassapa), nhưng thường được gọi là Hoàng tử Ca Diếp vì cậu được nuôi dưỡng như một vị hoàng tử.

Khi lên bảy tuổi, cậu xuất gia với đức Thế Tôn, và đến khi tuổi tác đầy đủ thì thọ cụ túc giới. Theo thời gian, thầy trở thành người nỗi tiếng trong số những người giảng Pháp. Thế rồi, đức Thế Tôn ấn chứng cho thầy. Ngài nói:

 – Này các Tỳ-kheo, biện tài bậc nhất trong số các đệ tử của ta là Hoàng tử Ca Diếp.

Về sau, nhờ nghe kinh Vammīka (Trung Bộ kinh, kinh số 23), thầy chứng được A-la-hán. Rồi mẹ của thầy, Tỳ-kheo ni, nhờ tu hành quán pháp cũng chứng được quả vị tối thượng. Tôn giả Cưu-ma-la-ca-diếp sáng ngời lên trong giáo pháp của đức Phật, giống như mặt trăng rằm ở giữa trời. Bấy giờ, một sáng hôm nọ, sau khi đi khất thực trở về và giáo giới cho các Tỳ-kheo xong, Như Lai trở về hương thất của mình. Sau lời giáo giới của Ngài, các Tỳ-kheo trải qua suốt ngày hoặc trong các phòng thất ban ngày, hoặc trong các phòng thất ban đêm của họ cho đến khi trời chiều. Sau đó, họ tập họp lại trong Chánh pháp đường và nói:

 – Thưa các Pháp hữu, bởi vì không phải là một bậc Giác ngộ, và bởi vì không có tâm nhẫn nhục, từ bi, Đề-bà-đạt-đa chút nữa đã hoại diệt Tôn giả Cưu-ma-la-ca-diếp và người mẹ đáng kính của Tôn giả. Nhưng đức Phật Toàn giác, là bậc Pháp Vương có đầy đủ hạnh nhẫn nhục và lòng từ bi đã cứu độ họ.

Trong khi họ ngồi ở Chánh pháp đường tán thán đức Thế Tôn như vậy, đức Thế Tôn hiển thị oai đức của một vị Phật và đi vào. Ngài ngồi xuống và hỏi họ đang bàn luận về điều gì khi cùng ngồi lại với nhau. Các Tỳ-kheo thưa.

–  Bạch Thế Tôn, chúng con đang bàn về công đức của Thế Tôn.

        – Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Như Lai là nơi nương tựa cho hai người này, mà đời trước Như Lai cũng từng là nơi quy y của họ.

Nghe thế, các Tỳ-kheo thỉnh cầu đức Thế Tôn giảng giải điều đó. Đức Thế Tôn khai mở vấn đề mà vì tái sanh che khuất họ không nhìn thấy được.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vị vương quốc Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm một chú nai. Vào lúc ra đời, nai có sắc vàng. Mắt nai giống như bảo ngọc. Gạc lấp lánh giống như bạc. Miệng có màu đỏ giống như một bó vải đỏ tươi. Bốn chân giống như được quét sơn. Đuôi giống như đuôi bò. Và nai to lớn như một con ngựa tơ. Được vây quanh bởi năm trăm con nai, Bồ-tát trú trong rừng sâu và được gọi tên là Lộc Vương Ni-câu-lư-đà (Nigrodha - cây đa). Gần chỗ Bồ-tát ở, có một con nai chúa khác tên là Tát-già (Sakkha, nhành) sống. Nai này cũng được một đàn nai năm trăm con vây quanh và cũng có sắc vàng giống như Bồ-tát.

Bấy giờ, vua Ba-la-nại rất thích săn bắn, và mỗi bữa ăn của ông phải luôn có thịt. Hàng ngày, ông tập trung toàn bộ thần dân lại – thành thị cũng như nông thôn và đi săn bắn, điều này làm thiệt hại công việc của họ. Dân chúng nghĩ: “Vị vua này làm đình trệ công việc của chúng ta. Hay là chúng ta rải thức ăn và cung cấp nước uống cho đàn nai ở trong vườn, sau đó lùa một số nai vào đó, chặn chúng lại bên trong và giao chúng cho nhà vua!”  Thế là họ rải cỏ trong vườn cho đàn nai ăn và cung cấp nước cho chúng uống, sau đó mở cửa ra thật rộng. Rồi họ bảo các thị dân cầm lấy gậy gộc và tất cả các loại vũ khí đi vào rừng để tìm nai. Họ vây lấy một đám rừng chu vi một dặm để bắt đàn nai ở trong vòng vây đó, và như thế đàn nai của Ni-câu-lư-đà và đàn nai của Tát-già bị bao vây. Ngay khi nhìn thấy đàn nai, họ lấy gậy gộc đập vào cây, vào bụi và đập xuống đất mãi cho đến khi xua đàn nai ra khỏi hang ổ của chúng. Sau đó, họ khua gươm, giáo và cung tên ầm lên, xua cả đàn nai vào trong vườn và đống cửa lại. Rồi họ đi đến gặp vua và nói:

 – Thưa hoàng thượng, bởi vì hoàng thượng cứ đi săn bắn hoài nên làm ngưng trệ công việc của chúng con. Vì thế, chúng con đã xua hết cả đàn nai từ trong rừng vào đầy cả ngự viên. Từ này xin hoàng thượng cứ ăn thịt chúng.

Ngay sau đó, nhà vua đi vào ngự viên, quan sát đàn nai và thấy trong số chúng có hai con nai sắc vàng và ông tha mạng cho hai con nai này. Từ hôm đó, có khi nhà vua tự mình đi đến ngự viên, bắn lấy một con nai mang về, nhưng có khi người đầu bếp của vua đi đến bắn nai đem về. Vì thế, mỗi khi nhìn thấy cây cung, cả đàn nai đã tháo chạy vì sợ nguy hại đến tính mạng, nhưng sau khi bị vài ba vết thương, chúng trở nên kiệt sức và bị giết chết. Đàn nai thuật lại điều đó với Bồ-tát. Bồ-tát cho mời Tát-già đến và nói:

 – Này bạn, đàn nai bị tiêu diệt quá nhiều. Mặc dù chúng không thể thoát khỏi được cái chết, nhưng ít ra đừng để nhà vua dùng tên sát hại không cần thiết như vậy. Hãy để những con nai thay phiên nhau thí mạng, ngày hôm nay một con của đàn tôi, và ngày hôm sau một con của đàn anh. Những con nai tới số sẽ đến nơi hành hình, nằm xuống và kê đầu lên thớt gỗ. Bằng cách làm như vậy, những con nai khác sẽ khỏi bị thương.

Con nai kia đồng ý. Từ đó về sau, đến phiên con nai nào thì con đó đi đến, nằm xuống và kê cổ chờ sẵn nơi thớt gỗ. Người đầu bếp chỉ việc đến mang con nai đang nằm sẵn ở đó đem đi.

Một hôm, đến phiên một con nai cái có chửa thuộc đàn nai của Tát-già. Con nai cái này đi đến Tát-già và nói:

 – Thưa chủ vương, tôi đang mang thai và sắp đến ngày sinh, như vậy sẽ có hai sinh mạng đến phiên. Xin chủ vương cho tôi qua khỏi phiên này.

Tát-già nói:

 – Không được, ta không thể đem phiên của cô trao cho một kẻ khác được. Cô phải mang lấy nghiệp quả của mình. Hãy đi đi!

Không được con nai này chấp thuận, nai cái đi đến Bồ-tát và kể lại câu chuyện của mình. Nghe thế, Bồ-tát nói:

 – Thôi được, cô hãy đi đi. Ta sẽ xem xét bỏ qua phiên của cô.

Thế rồi, Bồ-tát tự mình đi đến lò mổ và nằm kê đầu lên thớt gỗ. Người đầu bếp nhìn thấy và kêu lên:

– Sao lộc vương được miễn chết lại nằm ở đây! Có nguyên nhân gì chăng?

Rồi anh ta chạy đến kể lại với nhà vua sự việc. Khi nghe điều đó, nhà vua ngự lên xe ngựa và cùng với đoàn tùy tùng đông đảo đi đến. Khi nhìn thấy Bồ-tát, nhà vua nói:

 – Này bạn lộc vương, không phải ta đã hứa tha mạng cho bạn rồi sao? Vậy cớ gì bạn lại đến nằm đây?

 – Thưa đại vương, có một con nai cái có chửa đến gặp tôi và cầu xin tôi để một con nai khác thay phiên cho nó. Và vì không thể chuyến cái chết của con này sang con khác được nên tôi hy sinh mạng sống của mình cho cô ta, nhận lấy cái chết của cô ta vào phần mình và đến nằm ở đây. Thưa đại vương, xin chớ nghi ngờ.

Nghe thế, nhà vua nói:

 – Này bạn lộc vương, ngay cả trong loài người, ta chưa bao giờ nhìn thấy một người giàu lòng nhân đức và từ bi như bạn. Cho nên, ta lấy làm hài lòng về bạn. Thôi hãy đứng lên! Ta tha mạng cho bạn và cả con nai cái kia.

 – Thưa vua của loài người, mặc dù hai chúng tôi được tha mạng, nhưng số còn lại thì sao?

Này bạn, ta cũng tha mạng cho chúng.

 – Thưa đại vương, như vậy, chỉ đàn nai ở trong ngự viên được tha mạng, còn tất cả những con nai khác thì sao?

 – Này bạn, ta cũng tha mạng cho chúng.

 – Thưa đại vương, loài nai được an toàn như vậy, nhưng những sinh vật bốn chân khác sẽ phải chịu chết sao?

– Này bạn, ta sẽ cũng tha mạng cho chúng.

 – Thưa đại vương, những sinh vật bốn chân được an thân như vậy, nhưng những chim muông thì thế nào?

 – Này bạn, ta cũng sẽ tha mạng cho chúng.

 – Thưa đại vương, những đàn chim được bình an, nhưng loài cá sống ở trong nước thì thế nào?

 – Này bạn, ta cũng sẽ tha chết cho chúng.

Sau khi xin nhà vua tha mạng cho tất cả sinh vật như vậy, bậc Đại sĩ đứng lên, khuyên nhà vua thọ trị năm giới và nói:

 – Thưa đại vương, hãy đi theo chánh đạo. Hãy sống theo chánh đạo đối với cha mẹ, con cái, Bà-la-môn, cư sĩ, thương nhân, nông phu…Sống như vậy, đại vương sẽ được sanh về thiên giới sau khi từ bỏ thân xác này.

Như vậy, với oai đức của một bậc Giác ngộ, Bồ-tát đã thuyết Pháp cho nhà vua. Rồi Bồ-tát lưu lại ngự uyển một vài ngày để thuyết giáo cho vua, sau đó cùng với đàn nai vây quanh đi vào rừng trở lại.

Riêng con nai cái kia, nó sinh được một con nai con có sắc vàng tươi đẹp giống như một nụ hoa mới nở. Con nai con này thường đi đây đó với nai Tát-già. Nai mẹ thấy vậy thì khuyên con:

– Này con, con đừng đi với ông ta. Con hãy đi với đàn nai của Ni-câu-lưu-đà.

Rồi nai mẹ đọc lên bài kệ này:

Sống với nai Ni-câu-lưu-đà

Lánh xa đàn nai của Tát-già

Thà chết với Ni-câu-lưu-đà

Còn hơn sống với nai Tát-già.

Từ đó, vì được tha mạng chết, nên đàn nai thường hay đến ăn mùa màng của loại người, và người ta không dám đánh đàn nai hay đuổi nó đi vì biết rằng đàn đã được nhà vua miễn cho tội chết. Vì thế, dân chúng tập trung lại trước sân vua và bẩm sự việc lên ông. Ông nói:

 – Vì quý mến nai Ni-câu-lưu-đà, ta đã hứa cho nai một đặc ân. Ta thà bỏ vương quốc chứ không từ bỏ lời hứa của mình. Các người hãy về đi! Không ai ở trong vương quốc của ta được phép sát hại đàn nai.

Nhưng khi nghe điều này, nai Ni-câu-lưu-đà đã gọi đàn nai của mình đến và nói:

 – Từ này về sau, các vị không được đến ăn mùa màng của người khác.

Sau khi ngăn cấm chúng như vậy, nai thông báo cho dân chúng biết:

– Từ này về sau, nông phu đừng rào cánh đồng của mình nữa, mà chỉ cần làm dấu bằng cách cột lá lại quanh cánh đồng.

Và nghe nói từ đấy, bắt đầu hình thành tập tục cột lá lại để làm dấu đồng ruộng. Và từ đó, không có con nai nào dám xâm phạm vào một cánh đồng đã được làm dấu như vậy. Sở dĩ như thế là do chúng được Bồ-tát chỉ bảo.

Bồ-tát khuyên đàn nai của mình như thế, và bản thân cũng thực hiện như vậy suốt đời. Rồi Bồ-tát sống đến hết tuổi thọ, sau đó cùng với đàn nai tái sanh theo hành nghiệp của mình. Nhà vua cũng sống theo lời dạy của Bồ-tát, sau một đời hành thiện, đến khi mạng chung đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, sau khi nói xong rằng, bây giờ cũng như đời quá khứ, đức Thế Tôn là nơi nương tựa cho hai người này, Ngài tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Rồi khi trình bày xong mối liên hệ và kết hợp cả hai câu chuyện đã được kể lại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là nai Tát-già, đệ tử của ông ta là đàn nai của Tát-già; Tỳ-kheo ni là con nai cái; thái tử Ca Diếp là con của nai; A-nan là nhà vua; còn ta chính là nai Ni-câu-lưu-đà.

Chuyện số 13: CHUYỆN MŨI TÊN (Tiền thân Kandina) 

Nguyền rủa mũi tên ái…

Trong khi trú tại Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc các Tỳ-kheo bị những người vợ cũ cám dỗ. Chuyện này sẽ được trình bày ở Tiền thân Indriya, số 423, Tập tám. Ở đây, đức Thế Tôn nói với Tỳ-kheo này:

 – Này Tỳ-kheo, đời trước, chính vì người phụ nữ này mà thầy đã phải bỏ mạng và bị nướng trên than hồng.

Các Tỳ-kheo thỉnh cầu đức Thế Tôn giảng giải điều này. Đức Thế Tôn làm sáng tỏ vấn đề mà do vì tái sinh họ không thể nhìn thấy.

(Từ đây về sau, chúng ta sẽ bỏ đi câu: Các Tỳ-kheo thỉnh cầu đức Thế Tôn giảng giải điều đó, và đức thế tôn đã làm sáng tỏ vấn đề mà do vì tái sinh họ không thể nhìn thấy; chúng ta chỉ nói: “Rồi đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.” Chỉ nói điều này, từ Chư Tỳ-kheo thỉnh cầu cho đến thí dụ làm cho mặt trăng thoát khỏi mây, và làm sáng tỏ vấn đề mà do vì tái sanh không thể nhìn thấy tất cả đều được lập lại như ở trên.)

* * *

Thuở xưa, vua của vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha) đang trị vì ở thành Vương-xá (Rājagaha). Vào mùa lúa chín, vì phải đối mặt với những điều hết sức nguy hiểm, nên những con nai đã đi vào rừng. Bấy giờ, có một con nai rừng khởi tâm luyến thương một con nai cái sống gần một ngôi làng. Rồi khi đàn nai quay lại rừng, con nai đực này do bị ái tình thúc dục nên đã đi theo nai cái. Nai cái nói:

 – Thưa ông, ông là một con nai ngu ngốc. Ở gần làng đầy dẫy những mối nguy hiểm, thế nên ông đừng đi với chúng tôi.

Nhưng nai đực, do vì quá luyến ái nai cái nên không chịu ở lại mà cùng đi với nó.

Khi biết rắng thời điểm đàn nai từ trên các ngọn đồi đi xuống, dân chúng Ma-kiệt-đà mai phục bên đường; và có một người thợ săn đang nằm chờ ngay bên con đường mà cặp nai này đang đi. Đánh thấy hơi người, con nai cái trẻ nghi có thợ săn mai phục nên để cho con nai đực đi trước, còn nó đi sau. Chỉ bằng một mũi tên, người thợ săn đã bắn gục con nai đực. Trông thấy vậy, con nai cái đã phóng chạy như gió. Sau đó, người thợ săn ra khỏi nơi ẩn nấp, lột da, nhóm lửa và quay thịt tươi trên than hồng. Sau khi ăn uống xong, ông ta dùng đòn gánh mang số thị tươi sống còn lại về nhà để thết đãi bọn trẻ.

Bấy giờ, Bồ-tát trú trong chính khu rừng đó và Ngài nhìn thấy những gì đã xảy ra. Ngài nghĩ: “Không phải cha, không phải mẹ, mà chính ái tình đã huỷ diệt con nai ngu ngốc này. Khởi đầu của ái tình là hạnh phúc, nhưng kết thúc của nó là ưu phiền và khổ đau: đau khổ bị chặt tay, đau khổ vì năm thứ trói buộc, thúc bách. Làm cho kẻ khác chết là điều đáng hổ nhục ở đời này. Xứ sở nào do nữ giới nắm quyền cai trị cũng là điều đáng hổ nhục. Những người nào để cho nữ nhân thống trị cũng thật đáng hổ nhục.” Thế rồi, trong khi các thần cây tán thán và cung kính cúng dường dầu thơm và bông hoa…, Bồ-tát đã tóm thâu ba điều đáng hổ nhục này vào trong một bài kệ. Và với thanh âm dịu ngọt, Ngài đã làm vang dội cả khu rừng khi thuyết pháp qua những dòng kệ:

Nguyền rủa mũi tên tình

Gây cho người đau khổ

Đáng nguyền rủa quốc độ

Thống trị bởi nữ nhân

Đáng nguyền rủa chúng nhân

Cúi mình trước nữ giới.

Chỉ bằng một bài kệ như vậy, Bồ-tát đã thâu tóm ba điều đáng hổ nhục, và cả khu rừng vang động khi Ngài thuyết pháp với oai đức của một vị Phật.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn thuyết minh Tứ Thánh đế. Kết thúc bài pháp, thầy Tỳ-kheo si ái chứng được quả Dự Lưu. Sau khi kể xong hai câu chuyện, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của chúng và nhận diện Tiền thân.

(Từ đây trở đi, chúng ta sẽ bỏ đi những từ, “Sau khi kể xong hai câu chuyện”, chỉ nói “kết thúc câu chuyện, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân…,” ; những từ bị bỏ đi thì được thay thế như trên.

– Thuở đó, Tỳ-kheo si ái là con nai rừng, người vợ cũ là con nai trẻ, còn ta chính là vị thiên thần đã thuyết pháp nõi rõ phiền não của ái dục.

Chuyện số 14: CHUYỆN CON NAI GIÓ (Tiền thân Vātamiga)

Không gì đáng sợ hơn vị giác…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Đại đức Tiểu Cấp Cô Độc Đế Tu (Cullapindaptika Tissa). Chuyện kể rằng, trong khi đức Thế Tôn đang trú tại tịnh xá Trúc lâm gần thành Vương-xá, con trai của một gia đình giàu có tên là Đế Tu Đồng Tử, một ngày nọ khi đi đến tịnh xá nghe đức Thế Tôn thuyết pháp đã phát nguyện xuất gia, nhưng cha mẹ chàng không bằng lòng. Rồi bằng cách noi theo Đại đức Raṭṭha-pāla (Trung Bộ kinh, số 83), chàng trai nhịn đói liền trong bảy ngày, cuối cùng được cha mẹ bằng lòng và chàng đã xuất gia với đức Thế Tôn.

Sau khi cho chàng trai này xuất gia được khoảng nữa tháng, đức Thế Tôn rời tịnh xá Trúc Lâm để đến tịnh xá Kỳ Viên. Tại đấy, thiện nam tử này tu tập Mười ba hạnh Đầu đà, khất thực từ nhà này sang nhà khác, không bỏ qua một nhà nào. Với danh xưng Đại đức Tiểu Cấp Cô Độc Đế Tu, thầy trở nên sáng chói trong giáo pháp của đức Phật giống như mặt trăng trên bầu trời.

Bấy giờ, một lễ hội được tổ chức tại thành Vương-xá. Cha mẹ của Đại đức đặt những đồ trang sức mà thầy thường mang khi còn là một cư sĩ vào trong một cái tráp bằng bạc, ôm nó lên ngực và than khóc thế này:

 – Vào những lễ hội trước đây, con trai chúng ta thường mang những đồ trang sức sang trọng này khi đi dự lễ hội. Nay Sa môn Cù Đàm (Gotama) đã đưa đứa con trai duy nhất của chúng ta đến thành Xá-vệ. Con trai của ta giờ đây đang đứng, đang ngồi ở đâu?

Bấy giờ, một nữ tỳ đi về nhà, trong thấy bà chủ đang khóc thì hỏi tại sao bà khóc. Bà chủ kể với cô tất cả. Nghe thế, cô hỏi:

 – Thưa bà, cậu nhà thích thứ gì?

 – Thích thứ như vậy…Bà chủ nói.

 – Được rồi, nếu bà cho con có thẩm quyền trong căn nhà này, con sẽ đưa cậu nhà trở về.

– Tốt lắm.

Bà chủ chấp nhận, cho tiền lộ phí và tiễn cô gái cùng với đoàn tuỳ tùng đông đảo lên đường. Bà nói:

– Hãy đến đó và tìm cách đưa con trai của ta trở về.

Thế rồi, cô gái ngồi lên một chiếc kiệu và đi đến thành Xá-vệ. Ở đó, cô chọn nhà trọ ở nơi con đường mà Đại đức thường đi khất thực, vây quanh cô là những người hầu của mình. Cô không để cho Đại đức nhìn thấy người nhà của phụ thân thầy, rồi canh chừng lúc Đại đức đi vào phố khất thực thì lập tức cúng dường thức ăn và thức uống cho thầy. Và cuối cùng, khi đã trói được thầy bằng những sợi dây tham vị, cô mời thầy vào ngồi trong nhà. Rồi đến khi biết rằng đã chinh phục được Đại đức bằng những món ăn, cô giả vờ bệnh và nằm ở trong phòng.

Đúng thời khất thực, thầy đi đến trước nhà cô gái, và người nhà của cô đã mang lấy bát của thầy và đưa thầy vào nhà mời ngồi. Sau khi ngồi xuống, thầy hỏi:

– Nữ tín chủ ở đâu?

– Thưa thầy, cô chủ bị bệnh và mong được gặp thầy.

Bị trói buộc bởi tham muốn vị giác, Đại đức phá bỏ giới cấm mà mình đã thọ và đi vào nơi cô gái đang nằm.

Sau đó, cô ta nói với thầy rằng duyên do cô đến đây là vì muốn mê hoặc thầy, muốn trói buộc thầy bằng tham dục vị giác, khiến cho thầy từ bỏ đời sống xuất gia. Khi đã chinh phục được thầy, cô đặt thầy vào trong kiệu và cùng với đoàn tùy tùng đông đảo quay trở lại Vương-xá.

Sự kiện này được đồn rộng ra. Ngồi trong Chánh pháp đường, chư Tỳ-kheo bàn luận vấn đề này, nói:

 – Thưa các Pháp hữu, nghe kể rằng có một nữ tỳ đã trói buộc Đại đức Tiểu Cấp Cô Độc Đế Tu bằng tham dục vị giác và đưa thầy này trở về.

Đức Thế Tôn đi vào Chánh pháp đường, ngồi xuống chỗ dành cho mình và nói:

 – Này các Tỳ-kheo, các thầy đang bàn luận điều gì vậy?

Các Tỳ-kheo bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

 – Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu do vì bị trói buộc bởi tham dục vị giác mà Tỳ-kheo này bị cô ta chinh phục thôi đâu, mà đời trước, thầy này cũng từng bị cô ta chinh phục như vậy.

Nói vậy rồi, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, vua Phạm Dự (Brahmaddata) trị vì xứ Ba-la-nại có một người làm vườn tên là San-đồ-da (Sañjaya). Bấy giờ, có một con nai Gió đi đến ngự viên, trông thấy San-đồ-gia thì liền bỏ chạy, tuy người làm vườn không làm sợ hãi sinh vật nhút nhát này. Sau nhiều lần đến, con nai thường dạo khắp nơi trong ngự viên. Bấy giờ, người làm vườn hàng ngày thường hái nhặt hoa quả và mang chúng dâng vua. Một hôm, nhà vua hỏi:

 – Này khanh, khanh có thấy điều gì lạ trong ngự viên không?

 – Tâu đại vương, chỉ có một con nai Gió thường đi dạo quanh vườn.

Khanh có thể bắt được nó không?

 – Được, tâu đại vương. Nếu có một ít mật ong, con sẽ mang nó vào cung điện ngay cho đại vương.

Nhà vua sai đem đến cho người làm vườn một ít mật ong. Người làm vườn cầm lấy mật và đi ra ngự viên. Ở đấy, trước tiên anh ta bôi mật lên cỏ ở những nơi mà con nai thường hay lui tới, và sau đó ẩn nấp. Khi con nai đi đến ăn cỏ có bôi mật, vì bị cám dỗ bởi lòng tham vị giác nên nó không đi bất cứ chỗ nào khác ngoài ngự viên này. Thấy rằng kế hoạch của mình đã thành công, người làm vườn bắt đầu dần dần xuất hiện. Một hai ngày đầu, con nai đã bỏ chạy khi trông thấy người làm vườn, nhưng thấy mãi sinh quen nên nó khởi lòng tin, và dần dần đi đến ăn cỏ nơi tay người làm vườn. Khi thấy rằng sinh vật này đã bị chinh phục, trước tiên người làm vườn rãi lên đường những nhành cây non dày như một tấm thảm, sau đó cột một bầu mật ong đầy trên vai và giắt một búi cỏ bên thắt lưng, anh ta cứ thả rơi từng mớ cỏ có dính mật trước mặt con nai cho đến khi đưa nó vào ngay trong nội cung. Khi con nai vừa đi vào, người ta đã đống ngay cửa lại. Con nai nhìn thấy người, sợ nguy hại đến tính mạng nên lao tới lao lui quanh nội cung. Từ trên thượng lầu đi xuống, nhà vua nhìn thấy con nai đang hoảng sợ liền nói:

 – Con nai Gió này bản tính nhút nhát, suốt cả tuần không trở lại nơi nó đã thấy người, và suốt cả đời không trở lại nơi mà trước đây nó bị làm hoảng sợ. Thế nhưng, bị trói buộc bởi lòng tham vị giác, con thú hoang này từ trong rừng dần dần đi đến một nơi như thế này. Này các khanh, thực vậy, ở đời này không có điều gì nguy hiểm hơn dục tham vị giác này.

Rồi vua thuyết pháp qua bài kệ:

Không gì đáng sợ hơn vị giác

Dù sống với bạn hay ở nhà.

Nai kia sống ở trong rừng thẳm

Cũng bị chinh phục bởi Đồ-da.

Nói xong, nhà vua thả cho con nai quay trở lại rừng.

* * *

Kết thúc pháp thoại và nhắc lại điều mà Ngài đã nói, rằng vào đời trước Tỳ-kheo này cũng đã bị cô gái đó chinh phục, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, nữ tỳ này là San-đồ-da, Tỳ-kheo Tiểu Cấp Cô Độc là con Nai gió, còn ta chính là vua Ba-la-nại.

Chuyện số 15: CHUYỆN CON NAI HA-LA-ĐỆ-NHÃ (Tiền thân Kharādiya)

Khi nai có tám mống…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo ngang bướng. Chuyện kể rằng, thầy Tỳ-kheo này ngang bướng và không để tâm đến lời khuyên bảo. Thế rồi, đức Thế Tôn hỏi thầy này:

– Như họ nói, có thật là thầy ngang bướng và không để tâm đến lời huấn giới?

Bạch Thế Tôn, thật như vậy. Thầy trả lời.

 – Này Tỳ-kheo, vào thuở trước, thầy cũng từng ngang bướng và không nghe theo lời huấn giới của bậc Trí giả. Kết quả là thầy bị mắc bẫy và mất mạng.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể một câu chuyện Tiền thân.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sinh làm một con nai sống ở trong rừng, là thủ lĩnh của một đàn nai. Nai chị đưa con của mình đến gặp Bồ-tát và nói:

 – Này em, đây là cháu của em. Hãy dạy cho cháu những mưu mẹo của loài nai.

Nói xong, nai mẹ để con của mình lại cho Bồ-tát chăm sóc. Bồ-tát nói với nai cháu:

 – Này cháu, vào thời điểm như vậy…hãy đến đây, ta sẽ dạy học cho cháu.

Nhưng vào giờ được định, nai cháu không đi đến. Vào ngày hôm đó và bảy ngày tiếp theo nó đều như vậy, nó bỏ qua lời khuyên bảo và không học những mưu mẹo của loài nai. Cuối cùng, khi đi lang thang đây đó, nó bị mắc bẫy. Rồi nai mẹ đến hỏi Bồ-tát:

 – Này em, em không dạy cho cháu những mưu mẹo của loài nai phải không?

Bồ-tát trả lời:

 – Xin đừng nghĩ đến con nai khó bảo đó nữa. Con của chị không chịu học những mưu mẹo của loài nai.

Nói vậy xong, không còn muốn khuyên dạy con nai này nữa cho du nó gặp hiểm nạn, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:

Khi nai có tám mống

Gạc có vô số nhành

Có bảy mẹo cứu thân

Ta không dạy nó nữa.

Hỡi Ha-la-đệ-nhã.

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nói:

 – Này Tỳ-kheo, không phải chỉ bây giờ Tỳ-kheo này mới ương ngạnh, mà vào đời trước vị này cũng đã như thế.

Nói xong, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, Tỳ-kheo bướng bỉnh khó bảo này là con nai cháu. Liên Hoa Sắc (Uppala-vaṇṇā) là nai mẹ, còn ta chính là con nai huấn giáo.

Chuyện số 16: CHUYỆN CON NAI CÓ BA TƯ THẾ NẰM (Tiền thân Tipallattha-Miga)

Đầy đủ ba tư thế…

Trong khi trú tại tinh xá Bạt-đà-lợi (Badarika), ở nước Kiều-thưởng-di (Kosambī), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Tôn giả La-hầu-la (Rāhula), người thiết tha học các giới học.

Một lần, khi đức Thế Tôn đang trú tại điện A-già-la-bà (Aggāḷava) ở thành A-la-tì (Aḷati), nhiều nữ cư sĩ và Tỳ-kheo ni thường đến đấy để nghe thuyết Pháp, và thời pháp được tổ chức vào ban ngày. Nhưng một thời gian sau, các nữ cư sĩ và Tỳ-kheo ni không đến nghe pháp nữa mà chỉ có những Tỳ-kheo và cư sĩ nam đến, do đó thời pháp được tổ chức vào buổi tối.

Kết thúc thời pháp, các Tỳ-kheo Trưởng lão đi về phòng riêng của mình. Còn những thầy trẻ tuổi nằm tại nhà kho cùng với các cư sĩ nam. Khi ngủ, họ ngáy lớn tiếng và nghiến răng ken két. Một lát sau, có một số người thức dậy, chứng kiến cảnh tượng không thích hợp ấy nên đã bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói:

 – Nếu một Tỳ-kheo ngủ với người chưa thọ đại giới thì phạm tội Ba-dật-đề (Pācittiya, Đoạ tội, tội cần phải sám hối trước Tăng chúng).

Chế định học giới này xong, đức Thế Tôn đi đến nước Kiều-thước-di. Khi Thế Tôn đi rồi, các Tỳ-kheo nói với Tôn giả La-hầu-la:

 – Hiền hữu, đức Thế Tôn đã chế định ra học giới này, thế nên xin Hiền hữu hãy hoan hỷ tìm chỗ ở của mình.

Trước đây, vì kính trọng đức Thế Tôn và vì lòng thiết tha muốn học các học giới của Tôn giả La-hầu-la, nên các Tỳ-kheo tiếp đón Tôn giả ân cần. Họ lắp cho thầy một cái giường nhỏ và trao cho thầy một cái y để làm gối. Nhưng hôm đó, họ không cho thầy ở nữa vì sợ phạm giới. Tôn giả La-hầu-la không đi đến đức Phật là thân phụ của mình; không đi đến Tôn giả Xá-lợi-phất, bậc Tướng quân Chánh pháp là Hòa thượng của mình; không đi đến Tôn giả Đại Mục-kiền-liên là A-xà-lê của mình; cũng không đi đến Tôn giả A-nan là chú của mình, mà tự đi vào nhà vệ sinh của đức Thế Tôn và lấy đó làm chỗ ở giống như ở trong Phạm thiên cung.

Bấy giờ, nhà vệ sinh của đức Thế Tôn, cửa luôn được đống khít, nền bằng phẳng được làm bằng đất thơm, bông hoa và vòng hoa được trang trí xung quanh tường, và ở đấy suốt đêm được thắp đèn. Nhưng không phải do tiện nghi thoải mái này thúc đẩy mà La-hầu-la chọn đây làm chỗ trú, mà do vì các Tỳ-kheo bảo thầy tự tìm một nơi mà ở, và bởi vì thầy tôn trọng lời chỉ dạy và lòng thiết tha học các học pháp nên thầy mới chọn nơi này. Thế rồi, để thử La-hầu-la, các Tỳ-kheo mỗi khi nhìn thấy thầy từ xa đi lại, họ thường ném cán chổi hoặc một ít rác và hỏi ai đã xả nó khi La-hầu-la đi vào.

 – La-hầu-la, ai xả rác này vậy?

Nghe hỏi như vậy, Tôn giả không bao giờ nói rằng mình không biết gì cả về việc đó. Ngược lại, thầy thường dọn dẹp rác đó và khiêm nhường cầu xin sám hối, cũng không bỏ đi cho đến khi nào tin chắc đã được tha thứ. Thầy làm như vậy chỉ vì lòng thiết tha muốn học các học xứ. Và chính lòng thiết tha này đã thúc đẩy thầy chọn lấy chỗ trú ở trong nhà vệ sinh.

Bầy giờ, mặc dù trời chưa sáng, đức Thế Tôn đã đi đến trước cửa phong vệ sinh và đánh hắng. La-hầu-la đánh hắng trả lời. Đức Thế Tôn hỏi:

 – Ai đấy?

 – Bạch Thế Tôn, con là La-hầu-la.

La-hầu-la nói, rồi đi ra đảnh lễ đức Thế Tôn.

– La-hầu-la, sao con lại ngủ ở đây? Đức Thế Tôn hỏi.

– Bạch Thế Tôn, bởi vì con không biết đi đâu cả. Từ trước đến nay chư Tỳ-kheo vẫn luôn tử tế với con, nhưng bây giờ do sợ phạm giới mà các thầy không cho con ở nữa. Do đó, con chọn chỗ trú ở đây, bởi vì nghĩ rằng đây là một nơi mà con sẽ không va chạm với ai cả.

Nghe thế, đức Thế Tôn nghĩ: “Ngay cả La-hầu-la mà họ còn đối xử như vậy thì đối với những thiếu niên mới xuất gia khác có điều gì họ lại không làm?” Và Ngài ưu tư về việc đó. Thế rồi, vào buổi sáng, Ngài cho tập họp các Tỳ-kheo lại và hỏi bậc Tướng Quân Chánh Pháp:

– Này Xá-lợi-phất, thầy có biết La-hầu-la bây giờ ở đâu không?

– Bạch Thế Tôn, con không biết.

– Xá-lợi-phất, La-hầu-la bây giờ đang ở trong nhà vệ sinh. Xá-lợi-phất, nếu các thầy đối xử với La-hầu-la như vậy thì đối với những thiếu niên mới xuất gia khác có điều gì các thầy không làm chứ? Nếu các thầy đối xử như vậy thì không còn người nào ở lại với chúng cả. Từ này về sau, các thầy được phép cho người chưa thọ đại giới ở chung một hoặc hai ngày, đến ngày thứ ba thì cho họ ở bên ngoài sau khi biết rõ chỗ ở của họ.

Nói xong điều khoản này, đức Thế Tôn chế định học giới.

Chư Tỳ-kheo tập trung lại trong Chánh pháp đường và nói về đức hạnh của La-hầu-la.

–Thưa các Pháp hữu, hãy xem La-hầu-la thiết tha học các học giới. Khi được bảo hãy tự đi tìm chỗ ở cho mình, La-hầu-la không nói: “Tôi là con của Phật; các thầy có quan hệ gì đến chỗ ở này chứ? Các thầy hãy ra khỏi đây!” La-hầu-la không đuổi một Tỳ-kheo nào, mà tự tìm chỗ ở trong nhà vệ sinh.

Khi họ đang bàn luận như vậy, đức Thế Tôn đi vào và ngồi lên một chỗ ngồi có trang trí. Ngài nói:

 – Này các Tỳ-kheo, các thầy đang thảo luận chủ đề gì vậy?

 – Bạch Thế Tôn, chúng con không nói gì khác ngoài việc nói về lòng tha thiết muốn học các học giới của La-hầu-la.

Đức Thế Tôn nói:

 – Này các Tỳ-kheo, không chỉ bây giờ La-hầu-la mới thiết tha học các học giới, mà đời trước, khi thọ sanh làm một con thú, La-hầu-la cũng đã từng như vậy.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, có một vị vua nọ ở nước Ma-kiệt-đà (Magadha) trị vì thành Vương Xá (Rājagaha). Bầy giờ, Bồ-tát thọ sinh làm một con nai sống trong rừng, là thủ lĩnh của một đàn nai. Một hôm, chị của Bồ-tát đưa con của mình đến gặp Bồ-tát và nói:

 – Này em, em hãy dạy cho cháu những mưu mẹo của loài nai nhé.

 – Vâng, thưa chị.

Rồi Bồ-tát nói với nai cháu:

  – Bây giờ cháu hãy về, rồi vào một thời điểm như vây… hãy trở lại đây để học.

Thế rồi vào thời điểm mà nai cậu đã định, con nai nhỏ đi đến đấy và học các mưu mẹo của loài nai.

Một hôm, khi đang đi đây đó trong rừng, chú nai nhỏ bị mắc bẫy và thốt lên lời kêu than của một con thú bị bắt. Đàn nai bỏ chạy và báo lại với nai mẹ rằng con bà đã bị bắt. Nai mẹ đi đến Bồ-tát và hỏi rằng nai cháu có được dạy các mưu mẹo của loài nai không. Bồ-tát nói:

 – Chị đừng sợ, con chị không làm sao đâu. Cháu đã học thông các mưu mẹo của loài nai và sẽ trở về ngay thôi. Rồi chị sẽ được vui sướng.

Nói xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ:

Đầy đủ ba tư thế

Con của chị khôn lanh

Tập luyện dùng tám mống

Uống nước vào nửa đêm

Nằm trên đất giả chết

Chỉ thở mũi dưới thôi

Cháu tôi có sáu chước

Biết dùng mẹo lừa người.

Như vậy, Bồ-tát an ủi chị mình bằng cách trình bày cho bà thấy con của bà đã tinh thông tất cả những mưu mẹo của loài nai như thế nào. Trong lúc ấy, con nai nhỏ bị mắc trong bẫy, không vùng vẫy, nằm nghiêng duỗi người ra, chân duỗi ra và không nhúc nhíc. Nó dùng mống cào đất xung quanh chân để hất cỏ và bụi lên, tiểu tiện ra, gục đầu xuống, lè lưỡi ra, liếm khắp thân thể, làm phình bụng lên bằng cách hít hơi vào, trợn mắt lên, chỉ thở bằng lỗ mũi bên dưới, còn lỗ mũi trên nín không thở, và làm cứng đờ trông giống như một xác chết. Lại còn có cả bầy ruồi xanh bu quanh, và đây đó những con quạ đậu xuống.

Người thợ săn đi đến và lấy tay vỗ vào bụng con nai, nhận xét: “Nó chắc bị sập bẫy vào sáng sớm và nay sắp ươn rồi.” Nghĩ vậy, người thợ săn tháo những sợi dây ra khỏi con nai, tự nhủ: “Ta sẽ cắt nó ra từng miếng tại đây và mang thịt về nhà.” Nhưng khi người thợ săn vô tư nhặt nhành cây và lá (để nhóm lửa), con nai nhỏ đứng lên, giũ người, vươn cổ, và như một đám bụi mỏng lướt nhanh trước một cơn gió mạnh, nó phóng nhanh về với mẹ của mình.

* * *

Sau khi lập lại rằng không chỉ bây giờ La-hầu-la mới thiết tha học các học giới mà đời trước cũng đã từng như vậy, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, La-hầu-la là con nai nhỏ, Liên Hoa Sắc (Uppala-vaṇṇā là nai mẹ, và ta chính là nai cậu.

Chuyện số 17: CHUYỆN GIÓ THỔI (Tiền thân Māluta)

Dù sáng hay tối trăng…

Trong khi ở tại tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về hai thầy Tỳ-kheo xuất gia khi tuổi đã lớn. Tương truyền rằng, hai người này sống trong một khu rừng ở nước Câu-tát-la (Kosala). Một người được mệnh danh là Đại đức Tối và một người được mệnh danh là Đại đức Sáng. Một hôm, Sáng nói với Tối:

 – Pháp hữu, lúc nào được cho là có lạnh xuất hiện?

 – Lạnh xuất hiện vào nửa tháng tối trời?

Và một ngày, Tối nói với Sáng:

 – Pháp hữu, lúc nào được cho là có lạnh xuất hiện?

 – Lạnh xuất hiện vào nửa tháng có trăng.

Hai người không thể giải quyết được vấn đề nên đi đến đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và hỏi:

 – Bạch Thế Tôn, lúc nào được xem là thời điểm có lạnh xuất hiện?

Sau khi nghe những gì họ hỏi, đức Thế Tôn nói:

– Này Tỳ-kheo, vào đời trước ta đã trả lời vấn đề này cho hai thầy rồi, nhưng do vì tái sanh mà tâm các thầy trở nên mờ mịt.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, có một con sư tử và một con cọp kết bạn với nhau, chúng cùng sống với nhau trong một hang động tại chân một ngọn núi nọ. Bấy giờ, Bồ-tát là một vị tiên nhân cũng sống nơi chân ngọn núi ấy.

Một hôm, hai sinh vật này tranh cải với nhau về lạnh. Cọp nói lạnh xuất hiện vào nửa tháng tối trăng, trong khi sư tử nói lạnh xuất hiện vào nửa tháng sáng trăng. Khi cả hai không thể cùng giải quyết được vấn đề, chúng bèn hỏi Bồ-tát. Bồ-tát đọc lên bài kệ này:

Dù sáng hay tối trăng

Có gió thổi trời lạnh

Vì gió làm trời lạnh

Vậy cả hai đều đúng.

Bằng bài kệ như vậy, Bồ-tát đã giải hoa cho đôi bạn.

* * *

Kết thúc pháp thoại nhằm chứng mình rằng vào đời trước vấn đề như vậy đã từng được trả lời, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Kết thúc các Thánh đế, cả hai vị Đại đức này chứng được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, con cọp là Tối, sư tử là Sáng, còn ta chính là vị tiên nhân đã trả lời vấn đề.

Chuyện số 18: CHUYỆN PHẨM VẬT CÚNG TIẾN NGƯỜI CHẾT (Tiền thân Matakabhatta)

Sanh ra cõi đời là khổ đau…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc cúng tiến cho người quá cố. Bấy giờ, dân chúng thường đem dê, cừu v.v.. dâng cúng cho cho người thân đã quá cố. Nhìn thấy dân chúng làm việc ấy, các Tỳ-kheo bạch hỏi đức Thế Tôn:

 – Bạch Thế Tôn, nay dân chúng giết hại sinh vật để dâng cúng cho người thân đã quá vãng của họ, viêc làm như vậy có được ích lợi gì không?

Đức Thế Tôn trả lời:

 – Này các Tỳ-kheo, không có ích lợi gì cả khi tước đi mạng sống của sinh vật để dâng cúng cho người quá vãng. Vào đời trước, bậc Hiền trí từ trên không trung đã thuyết pháp và chỉ ra những ác quả của việc làm ấy, khiến cho toàn thể dân chúng từ bỏ sát sanh. Nhưng giờ đây do vì tái sanh làm mờ mịt tâm trí, nên hành động ấy lại khởi lên.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện Tiền thân này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì vương quốc Ba-la-nại, có một vị Bà-la-môn thông suốt ba bộ Vệ-đà và là một bậc thầy danh tiếng trong đời. Ông muốn cúng tiến cho người thân đã quá vãng nên cho giết một con dê và nói với những học trò của mình:

 – Này các con, hãy mang con dê này xuống sông và tắm rửa nó sạch sẽ, sau đó treo một vòng hoa quanh cổ nó, cho nó ăn một hủ gạo, chải lông cho nó và mang nó trở lại đây.

Những học trò vâng lời và mang con dê xuống sông. Ở đấy, họ tắm và chải lông cho nó rồi sau đó đưa nó lên bờ. Con dê biết được những hành nghiệp của mình trong những kiếp sống quá khứ nên vui mừng khốn xiết vì nghĩ rằng chính ngày hôm nay nó sẽ được giải thoát khỏi tất cả những khổ đau của mình. Nó cười lớn giống như tiếng đập vỡ một cái chậu. Nhưng rồi nó lại nghĩ rằng, Bà-la-môn này với việc giết nó sẽ phải mang lấy khổ đau do ác nghiệp mang lại. Vô cùng thương xót cho Bà-la-môn này, con dê đã lớn tiếng khóc. Những thanh niên Bà-la-môn thấy thế thì hỏi:

 – Này bạn dê, bạn vừa cười lớn tiếng rồi lại khóc lớn tiếng. Điều gì khiến bạn cười và điều gì khiến bạn khóc?

– Xin hãy hỏi điều này trước thầy của các bạn.

Thế rồi họ cùng với con dê đi đến thầy của họ. Sau khi nghe họ kể câu chuyện, vị thầy hỏi con dê tại sao nó cười và tại sao nó khóc. Ngay khi ấy, con dê nhờ khả năng nhớ được những kiếp sống quá khứ nên nhớ lại được những hành nghiệp của mình. Nó nói với vị Bà-la-môn thế này:

 – Thưa Ba-la-môn, vào kiếp trước, cũng giống như ngài, tôi cũng là một vị Bà-la-môn thông suốt các kinh Vệ-đà. Nhưng vì muốn cúng tiến cho người thân đã quá cố, tôi đã giết hại một con dê để dâng cúng. Cả đời chỉ giết một con dê thôi, nhưng tôi đã bốn trắm chín mươi chín lần bị chặt đầu. Đây là lần thứ năm trăm và cũng là lần cuối cùng tôi bị chặt đầu. Tôi cười lớn khi nghĩ rằng chính ngày hôm nay tôi sẽ được thoát khỏi tất cả khổ đau của mình. Ngược lại, tôi khóc khi nghĩ, trong khi tôi chỉ vì giết hại một con dê đã phải chịu mất đầu năm trăm lần, mãi đến hôm nay mới được giải thoát khỏi khổ đau, còn ngài, do ác nghiệp sát hại tôi, sẽ bị mất đầu năm trăm lần giống như tôi vậy. Chính vì xót thương cho ngài phải chịu cảnh đó nên tôi đã khóc.

Bà-la-môn nói:

– Này dê, đừng sợ. Tôi sẽ không giết bạn đâu.

– Thưa Bà-la-môn, ngài nói gì? Dù ngài có giết tôi hay không thì ngày hôm nay tôi cũng không thể thoát được cái chết. Dê nói.

 – Này dê, đừng sợ. Tôi sẽ đi cùng với bạn để bảo vệ bạn.

 – Thưa Bà-la-môn, sự bảo vệ của ngài thì yếu, còn ác nghiệp của tôi thì mạnh vô cùng.

Để cho con dê được sống yên ổn, Bà-la-môn nói với các đệ tử của mình:

 – Chúng ta không để cho bất cứ người nào giết hại con dê này.

Thế rồi cùng với những thanh niên, Bà-la-môn đi sát theo sau con vật. Khi con dê được tự do, nó vươn cổ ra để gặm lá bụi cây mọc gần chóp một tảng đá. Chính lúc đó, sét đánh vào tảng đá và chẻ ra một mảng đá. Mảng đá đó đã đánh vào cổ con dê đang vươn ra và cắt đứt đầu của nó. Thấy thế, dân chúng tập trung lại xem.

Bấy giờ, Bồ-tát thọ sinh làm Thần cây ở tại nơi đó. Bằng thần lực của mình, Bồ-tát ngồi kiết già trên không trung trong khi đám đông đang đứng nhìn. Bồ-tát nghĩ: “Nếu những người này biết được kết quả của ác nghiệp, họ sẽ tử bỏ sát sanh”. Thế rồi bằng một giọng nói nhu hòa, Bồ-tát thuyết pháp cho họ qua bài kệ:

Sanh ra cõi đời là khổ đau

Thế nhân nếu biết vậy thâm sâu

Hữu tình không giết hữu tình nữa

Giết hại chúng sinh chịu khổ sầu.

Bậc Đại sĩ đã thuyết pháp như vậy, làm cho thính chúng sợ hãi chốn địa ngục. Còn dân chúng khi nghe ngài nói như thế, quá sợ hãi cõi địa ngục nên từ bỏ sát sanh. Rồi sau khi thuyết pháp khiến cho dân chúng thọ trì giới pháp xong, Bồ-tát đã thọ sanh theo hành nghiệp của mình. Dân chúng cũng tinh chuyên thọ trì lời dạy của Bồ-tát, trọn đời làm việc bố thí và thực hành thiện nghiệp, đến khi mạng chung đã sanh về làm đông đảo kinh đô chư thiên.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, Ta chính là vị Thần cây.

Chuyện số 19: CHUYỆN CÚNG DƯỜNG CẦU NGUYỆN (Tiền thân Ayācitabhatta)

Nếu tìm cầu giải thoát…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc cúng dường để cầu nguyện các thiên thần. Truyền thuyết kể rằng, bấy giờ, dân chúng mỗi khi đi buôn bán, trước khi lên đường thường giết hại các sinh vật để dâng cúng cho thiên thần và cầu nguyện thế này: “Nếu chúng tôi trở về an toàn và có tiền lãi, chúng tôi sẽ dâng đồ cúng tiến cho ngài.” Rồi khi họ trở về an toàn và có tiền lời, họ nghĩ rằng tất cả điều đó đều do thần linh gia hộ nên giết một số sinh vật để dâng cúng nhằm giải đi lời nguyện.

Khi các Tỳ-kheo biết được việc đó, họ bạch hỏi đức Thế Tôn:

 – Bạch Thế Tôn, có lợi ích gì không trong việc làm này?

Nghe hỏi thế, đức Thế Tôn kể câu chuyện Tiền thân này.

* * *

Thuở xưa, ở vương quốc Ca-thi (Kāsi), có một vị điền chủ ở tại một ngôi làng nhỏ nọ có hứa hiến tế cho vị Thần cây đa mọc tại cổng vào làng. Sau đó, khi quay trở về, ông giết một số sinh vật và tự mình mang đến thần cây để giải lời nguyện. Nhưng vị Thần cây, đứng nơi chạc ba cây, đọc lên bài kệ này:

Nếu tìm cầu giải thoát 

Hãy cầu thoát đời sau

Hiện tại cầu thoát vậy

Là trói chặt thêm vào.

Hiền trí cầu giải thoát

Không tìm cầu như thế

Kẻ ngu cầu như thế

Cuối cùng trói chặt thêm

Từ đó về sau, dân chúng từ bỏ sát sanh, và nhờ sống theo chánh pháp nên khi mạng chung đã được sanh lên làm đông đúc kinh đô chư thiên.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, ta chính là vị Thần cây.

Chuyện số 20: CHUYỆN HỐ LÔ ẨM (Tiền thân Nalapāna)

 Ta nhìn thấy dấu chân…

Trong khi du hóa ngang qua nước Câu-tát-la (Kosala), đến làng Lô Ẩm (Naḷaka-pāna,) và đang trú tại rừng Khải-đạt-ca (Ketaka) gần hồ Lô Ẩm, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những cây lau.

Bấy giờ, sau khi tắm ở hồ Lô Ẩm, các Tỳ-kheo bảo các Sa-di đi lấy những cây lau để làm ống đựng kim. Nhưng khi nhìn thấy các ống lau đều rỗng từ đầu đến cuối, họ đi đến đức Thế Tôn và bạch:

 – Bạch Thế Tôn, chúng con cho đi lấy các cọng lau để làm ống đựng kim, và nhận thấy rằng các cọng lau từ gốc đến ngọn đều rỗng. Điều ấy là thế nào?

Đức Thế Tôn nói:

 – Này các Tỳ-kheo, đấy là do mệnh lệnh xưa kia của ta.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện Tiền thân này.

* * *

Chuyện kể rằng, xưa kia, tại nơi này có một khu rừng rậm. Và trong cái hồ ở đây, có một con quỷ nước thường ăn thịt những ai đi xuống nước. Bấy giờ, Bồ-tát thọ sanh làm khỉ vương, to lớn như một con hươu đỏ. Bồ-tát sống trong khu rừng đó, bảo vệ một đàn khỉ không dưới tám ngàn con. Bồ-tát khuyên răn đàn khỉ thế này:

 – Này các bạn, trong khu rừng này có một số cây độc và có những hồ nước mà bọn quỷ thường hay lui tới. Vì thế, trước khi các bạn ăn những thứ trái cây nào mà trước đây các bạn chưa ăn, hay uống thứ nước nào mà trước đây các bạn chưa uống thì xin hay hỏi ta đã.

 – Thưa vâng. Đàn khỉ vâng lệnh.

Một hôm, đàn khỉ đi đến một địa điểm mà trước đây chúng chưa hề đến. Khi chúng tìm nước để uống sau một ngày đi đây đó, chúng đi đến hồ nước này. Nhưng chúng không uống nước, ngược lại chúng ngồi xuống chờ Bồ-tát đến. Khi đi đến nơi, Bồ-tát hỏi:

 – Các bạn, tại sao các bạn không uống nước?

 – Chúng con chờ ông đến.

 – Lành thay. Bồ-tát nói.

Thế rồi Bồ-tát đi vòng quanh hồ nước và xem xét dấu chân. Nhận thấy rằng tất cả dấu chân đều đi xuống nước mà không có dấu chân nào đi lên, Bồ-tát nghĩ: “Không nghi ngờ gì nữa, hồ này có một con quỷ ẩn trú” nên nói với đàn khỉ:

 – Các bạn, các bạn rất đúng khi không uống nước ở hồ này, bởi vì hồ này có một con quỷ ẩn trú.

Khi con quỷ nước nhận thấy đàn khỉ không đi vào lãnh địa của nó, nó bèn hoá hiện ra hình thù một con yêu quái kinh dị, có bụng xanh, mặt trắng, còn tay và chân đỏ tươi. Bằng hình hài như vậy, nó ra khỏi nước và nói:

 – Tại sao các ngươi ngồi ở đây? Hãy xuống hồ uống nước đi.

Nghe thế, Bồ-tát nói với nó:

– Có phải ngươi là con quỷ của hồ nước này không?

– Đúng thế. Con quỷ trả lời.

– Có phải ngươi bắt tất cả những ai đi xuống hồ nước này để làm mồi không?

– Đúng thế, từ những con chim nhỏ trở lên, ta không bao giờ tha cho bất cứ một ai đi xuống hồ nước của ta. Ta cũng sẽ ăn hết thảy bọn người.

 – Nhưng chúng tôi sẽ không để cho ngươi ăn.

 – Vậy hãy uống nước đi.

 – Được, chúng tôi sẽ uống nước, tuy thế chúng tôi sẽ không rơi vào quyền năng của ngươi.

– Thế các ngươi dự định uống nước bằng cách nào?

– Ngươi nghĩ chúng tôi phải đi xuống hồ mời uống được nước sao? Tám ngàn con khỉ chúng tôi sẽ không đi vào nước đâu mà mỗi con sẽ lấy một cọng lau và uống nước ở hồ của người một cách dễ dàng như chúng tôi uống nước thông qua một cọng sen rỗng. Và như thế, ngươi sẽ không thể ăn thịt được chúng tôi.

Rồi Bồ-tát đọc lên nửa bài kệ sau. (Nửa bài kệ đầu được đức Thế Tôn nói thêm khi Ngài nhớ lại sự việc)

Ta nhìn thấy dấu chân

Tất cả đều đi xuống

Với cọng lau ta uống

Ngươi không thể giết ta.

Nói vậy xong, Bồ-tát bảo mang đến cho mình một cọng lau. Rồi niệm tưởng Thập hạnh Ba la mật, bằng một giọng trang nghiêm, Bồ-tát đọc chúng lên và thổi vào cọng lau. Ngay lập tức, cọng lau trở nên rỗng suốt, từ đầu đến cuối không còn sót lại một mắt nào. Bằng cách như vậy, Bồ-tát lần lượt cho mang đến những cọng lau khác và thổi chúng. Nhưng nếu làm như thế, Bồ-tát không thể kết thúc được công việc. Vì thế, Bồ-tát đi quanh hồ và ra lệnh: “Tất cả những cọng lau ở đây hãy trở thành rỗng suốt.” Bấy giờ, nhờ lợi hành lớn lao của chư Bồ-tát mà mệnh lệnh của họ luôn được thành tựu. Và do đó,  tất cả những cọng lau mọc quanh hồ này đều trở thành rỗng suốt.

(Vào kiếp này, có bốn loại thần biến mà chúng được kéo dài suốt cả kiếp. Bốn điều đó là gì? Chúng là: thứ nhất, hình con thỏ xuất hiện trong mặt trăng, nó sẽ tồn tại trong suốt kiếp này – xem Tiền thân số 316; thứ hai, địa điểm mà lửa được dập tắt như được kể trong Tiền thân Vaṭṭaka, số 35, nơi ấy sẽ không bị lửa chạm đến trong suốt kiếp này; thứ ba, tại nơi Ghaṭīkāra làm nhà, không bao giờ có mưa rơi xuống trong suốt kiếp này; và cuối cùng, tất cả những cọng lau mọc quanh hồ này sẽ rỗng suốt trong suốt kiếp này. Đây là bốn thứ thần biến của kiếp này.)

Sau khi ra lệnh như vậy, Bồ-tát cầm lấy một cọng lau và ngồi xuống. Tám ngàn con khi kia cũng ngồi xuống quanh hồ, mỗi con cầm lấy một cọng lau trong tay. Rồi khi Bồ-tát hút nước thông qua một cọng lau, cả bầy khỉ lúc ngồi trên bờ cũng uống nước bằng cách như vậy. Vì chúng uống nước bằng cách như vậy nên con quỷ nước không thể bắt được chúng. Thế là nó tức giận và quay về trú xứ của mình. Bồ-tát cùng với đàn khỉ của mình cũng quay trở lại rừng.

* * *

Khi kết thúc pháp thoại này và lập lại rằng những cọng lau sở dĩ trống rỗng là do mệnh lệnh xưa kia của mình, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, con quỷ nước là Đề-bà-đạt-đa, đệ tử của ta là tám ngàn con khỉ, còn ta chính là khỉ vương biết dùng phương tiện thiện xảo.

Chương I        Chương II       Chương III       Chương IV        Chương V    

Chương VI     Chương VII     Chương VIII     Chương IX        Chương X

Chương XI     Chương XII     Chương XIII     Chương XIV     Chương XV

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Hội PG Thảo Đường


  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp   


    Lịch sinh hoạt Phật sự

        

      Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem chi tiết lịch sinh hoạt  

      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh   


       

      Tôn ảnh Phật ngọc

       

       

         Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

      Đọc tiếp   

       

      Các trang web liên kết