CHUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

Tập 1 - Chương XV -  Phẩm Kakantaka

Chuyện số 141: CHUYỆN CON KỲ ĐÀ (Tiền thân Godha)

Kết thân với bạn xấu…

Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo phản bội. Những tình tiết của phần duyên khởi này thì giống như những gì được trình bày ở chuyện số 26, Tiền thân Mahilā-mukha.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một con kỳ đà. Khi trưởng thành, Bồ-tát sống trong một cái hang lớn ở nơi bờ sông cùng với đàn kỳ đà hàng trăm con khác. Bấy giờ, Bồ-tát có một cậu con trai, một con kỳ đà nhỏ. Con kỳ đà nhỏ này kết bạn với với một con tắc kè hoa và thường ôm chặt lấy con tắc kè hoa này. Sự thân mật này được báo lên kỳ đà chúa. Kỳ đà chúa cho gọi con trai đến và nói rằng kết bạn như vậy là không đúng chỗ, vì tắc kè hoa là một sinh vật thấp kém, và nếu cứ bám chặt lấy tình thân mật này mà không chịu từ bỏ thì tai hoạ sẽ giáng xuống toàn thể giòng họ kỳ đà. Rồi Bồ-tát bắt con trai không được quan hệ với con tắc kè hoa kia nữa, nhưng kỳ đà con vẫn tiếp tục giữ mối tình thân ấy. Bồ-tát khuyên bảo con trai rất nhiều lần, nhưng nhận thấy rằng lời nói của mình chẳng đem lại tác dụng gì. Và khi thấy trước mối đe doa sẽ giáng xuống loài kỳ đà do con tắc kè hoa gây ra, Bồ-tát đã cho đào một lối thoát ở một bên hang để khi cần có thể trốn thoát.

Thời gian trôi đưa, con kỳ đà nhỏ nay trở thành to lớn, trong khi con tắc kè hoa thì không lớn thêm được chút nào. Và rồi cảm thấy đau đớn mỗi khi bị con kỳ đà to lớn ôm ấp, con tắc kè hoa đoán biết rằng nó sẽ bị giết chết nếu sự việc cứ tiếp tục như thế thêm một vài ngày nữa, vì thế nó quyết định cấu kết với một gã thợ săn để huỷ diệt toàn bộ giòng họ kỳ đà.

Một hôm, vào mùa hè, sau một trận mưa giông, những con kiến từ tổ bò ra, và những con kỳ đà đã bổ đi khắp nơi để bắt kiến ăn. Bấy giờ, một người bẫy kỳ đà mang cuốc và dẫn những con chó đi vào rừng để đào bắt kỳ đà. Con tắc kè hoa muốn dẫn dụ người đánh bẫy nên đi đến nằm trước mặt ông ta và hỏi ông ta vào rừng làm gì. Người đánh bẫy trả lời:

- Ta vào rừng để bắt kỳ đà.

Nghe thế, tắc kè hoa nói:

- Hay lắm, ở đây tôi biết có một hang kỳ đà có hàng trăm con. Hãy mang lửa và cỏ theo tôi.

Nói rồi, nó đưa người đánh bẫy đến nơi những con kỳ đà sống và nói:

- Bây giơ ông hãy chất cỏ vào đây và xông khói những con kỳ đà. Hãy đặt những con chó của mình ở xung quanh và cấm lấy một cây gậy lớn chực sẵn. Rồi khi những con kỳ đà chạy ra, hãy đập chúng chết và chất thành đống.

Nói vậy xong, con tắc kè hoa phản bội rút lui ở một nơi gần đó. Ở đấy, nó nằm xuống với cái đầu ngẩng lên, tự nhủ thầm: “Hôm nay ta sẽ nhìn thấy sự bại vong của kẻ thù ta.”

Người đánh bẫy bắt đầu xông khói vào hang kỳ đà. Những con kỳ đà vì sợ mất mạng nên từ trong hang chạy tán loạn ra. Khi chúng chạy ra ngoài, người đánh bẫy lấy gậy đập vào đầu chúng, và nếu con nào bị đánh trượt thì chúng sẽ trở thành mồi cho lũ chó của ông ta. Và như vậy, có một sự sát hại thảm khóc đối với loài kỳ đà. Biết rằng đây chính là việc làm của con tắc kè hoa, Bồ-tát kêu lớn lên:

- Không nên kết thân với loài độc ác, vì như vậy sẽ mang lại sầu khổ cho đồng loại của mình. Hãy xem, chỉ vì một con tắc kè hoa độc ác mà đã làm cho tất cả những con kỳ đà này phải chịu tai họa.

Nói vậy xong, Bồ-tát bèn trốn thoát ra ngoài bằng con đường thoát hiểm đã được đào sẵn, và trong khi chạy ra đã đọc lên bài kệ:

Kết thân với bạn xấu

Thì không tốt cho ta

Chỉ vì kết bạn thân

Với con tắc kè hoa

Mà giòng họ kỳ đà

Đã phải chịu mất mạng.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là con tắc kè hoa, Tỳ-kheo lừa dối này là con kỳ đà con ương ngạnh, còn ta chính là kỳ đà chúa.

Chuyện số 142: CHUYỆN CON CHÓ RỪNG (Tiền thân Sigāla)

Ông nắm chặt cây gậy…

Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về âm mưu muốn giết hại Ngài của Đề-bà-đạt-đa.

Khi nghe các Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường bàn luận vấn đề, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, vào đời trước, Đề-bà-đạt-đa cũng đã từng hành động như vậy, tuy thế việc làm của ông ta bị thất bại. Và do vì chủ tâm xấu ác của mình mà ông ta đã chịu khổ nhọc.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một con chó rừng, sống trong một khu rừng nghĩa địa cùng với một đàn chó rừng đông đúc, và là vua của đàn chó này. Bấy giờ, có một lễ hội được tổ chức tại thành Vương Xá (Rājagaha). Đây là một lễ hội mà mọi người tham gia đều uống rượu nồng.

Bấy giờ, có một nhóm những kẻ ăn chơi, mang theo nhiều đồ ăn thức uống, trưng diện áo quần đẹp nhất, ngồi ca hát và vui vẻ ăn uống. Vào lúc nửa đêm, họ ăn hết thịt nhưng rượu thì còn nhiều. Thế rồi khi một người trong bọn họ đòi xin thêm thịt thì được bảo rằng thịt đã hết. Người này nói:

- Thức ăn không bao giờ thiếu trong khi ta còn đứng đây. Ta sẽ đi đến khu rừng nghĩa địa, giết một chó rừng lảng vảng ăn thịt ở đấy và mang thịt trở về.

Nói vậy xong, anh ta chụp lấy một cây gậy, ra khỏi kinh thành để đến nghĩa địa qua đường một ống cống. Ở đó, anh ta nằm xuống, nắm gậy trong tay và giả vờ đã chết. Vừa lúc ấy, Bồ-tát cùng với những con chó rừng khác đi đến nơi ấy và nhìn thấy xác chết giả vờ này. Nghi ngờ có sự đánh lừa, Bồ-tát quyết định kiểm tra vấn đề. Vì thế, Bồ-tát đi vòng xuống phía dưới gió và qua việc đánh hơi đã biết ngay rằng người này không phải là một xác chết thật sự. Quyết định làm cho người kia xấu hổ trước khi bỏ đi, Bồ-tát lén bò đến gần và dùng răn cắn lấy cây gậy kéo đi. Gã ăn chơi không biết Bồ-tát đến. Gã không chịu buông cây gậy mà nắm lấy cây gậy chặt hơn. Thế rồi, Bồ-tát thụt lui một vài bước và nói:

- Này ông bạn, nếu ông bạn đã chết thì ông bạn sẽ không nắm chặt cây gậy như vậy khi tôi kéo nó. Rõ ràng là ông bạn đang đánh lừa kẻ khác.

Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:

Ông nắm chặt cây gậy

Do đó tôi biết ông

Rõ ràng đang đánh lừa

Mà không phải xác chết.

Biết sự việc đã bị vạch trần, gã ăn chơi bật đứng dậy và ném cây gậy vào Bồ-tát, nhưng anh ta không ném trúng. Anh ta nói:

- Hãy cút đi con vật kia. Lần này ta đã để sổng mày.

Bồ-tát quay đầu lại và nói:

- Ngươi thật sự để sổng ta, nhưng ngươi chắc chắn không sổng khỏi những khổ đau trong đại địa ngục và mười sáu địa ngục nhỏ.

Gã ăn chơi tay không rời khỏi nghĩa địa. Rồi sau khi tắm rửa ở một rãnh nước, gã đi vào kinh thành bằng con đường mà gã đã đi ra.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là gã ăn chơi kia, còn ta chính là vua chó rừng.

Chuyện số 143: CHUYỆN CON SƯ TỬ (Tiền thân Virocana)

Xác ngươi bị nghiền nát...

Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những nỗ lực của Đề-bà-đạt-đa tại Gayāsisa nhằm tự cho mình là bậc Toàn Giác.

Khi thiền định biến mất, Đề-bà-đạt-đa đã đánh mất thanh danh và lợi dưỡng mà trước đây mình có. Rồi trong tình trạng bối rối, ông ta yêu cầu đức Thế Tôn hãy thừa nhận năm điểm mà ông đưa ra. Điều này bị từ chối, ông ta bèn phá hòa hợp Tăng và đi đến Gayāsila cùng với năm trăm Tỳ-kheo trẻ, là những đệ tử của hai thượng thủ đệ tử của đức Thế Tôn, những người chưa thuần thục trong Pháp và Luật. Với hội chúng này, Đề-bà-đạt-đa đã thực hiện những Tăng sự riêng biệt, ở tại những trú xứ riêng biệt.

Sau đó, khi biết rõ trí của những Tỳ-kheo trẻ này đã đến hồi thuần thục, đức Thế Tôn bèn đưa hai Đại đệ tử đến gặp họ. Khi nhìn thấy hai vị đến, Đề-bà-đạt-đa lấy làm hoan hỉ và ông đã thuyết giảng suốt đêm. Khi thuyết giảng như vậy, ông luôn cố tỏ ra mình có đủ tài đức của một vị Phật. Rồi tự cho mình là một vị Phật, ông nói:

- Này hiền giả Xá-lợi-phất, hội chúng vẫn còn thức và tỉnh táo. Mời Hiền giả thuyết pháp cho họ nghe. Lưng ta đã đau vì công việc. Ta cần nghỉ ngơi trong chốc lát.

Nói vậy xong, ông ta bỏ đi nằm ngủ. Thế rồi hai vị thượng thủ đệ tử đã thuyết giảng cho các Tỳ-kheo, làm cho họ giác ngộ về Đạo và Quả, rồi sau đó đem họ trở lại tinh xá Trúc Lâm.

Thấy tinh xá không còn bóng dáng Tỳ-kheo nào, Kokālika đi đến Đề-bà-đạt-đa và nói:

- Hiền giả, hai vị thượng thủ đệ tử đã giải tán hội chúng của hiền giả và để lại tinh xá trống không, vậy mà hiền giả vẫn còn nằm đây ngủ.

Nói vậy xong, Kokālika lột thượng y của Đề-bà-đạt-đa và đá vào ngực ông không chút thương tiếc như thể đá một cái cọc vào vách đất. Máu từ trong miệng Đề-bà-đạt-đa trào ra. Và từ hôm đó, do ảnh hưởng bởi trận đòn này mà ông thường xuyên bị ốm đau hành hạ.

Đức Thế Tôn hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

- Này Xá-lợi-phất, Đề-bà-đạt-đa đã làm gì khi thầy đến đó?

- Bạch Thế Tôn, Đề-bà-đạt-đa tự cho mình là một vị Phật, bắt chước làm theo như thế nhưng đã gặp tai họa.

Đức Thế Tôn nói:

- Này Xá-lợi-phất, giống như bây giờ vậy, đời trước Đề-bà-đạt-đa cũng bắt chước ta và đã gặp tai họa.

Sau đó theo lời thỉnh cầu của Tôn giả, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một con sư tử có bờm lông dài, sống tại hang Vàng ở vùng Tuyết sơn. Một hôm, sư tử đi ra khỏi hang, ngước mặt nhìn bốn phương rồi rống lớn lên khi đi tìm mồi. Giết một con trâu lớn, sư tử ăn phần thịt ngon nhất. Sau khi ăn thịt xong, sư tử đi xuống một hồ nước, uống đầy nước trong như pha lê rồi trở về hang của mình.

Bấy giờ, có một con chó rừng đang vội vã chạy, bất ngờ nhìn thấy sư tử, không thể trốn thoát được nên sụp người xuống nơi chân sư tử. Sư tử hỏi:

- Này chó rừng, ngươi muốn gì?

- Thưa ngài, xin nhận con làm người hầu của ngài.

- Hay lắm, hầu hạ ta người sẽ được ăn phần thịt ngon nhất.

Nói vậy xong, sư tử đưa sói trở về hang Vàng. Từ đó về sau, chó rừng được ăn phần thịt thừa của sư tử và chẳng bao lâu thì trở nên to mập.

Một hôm, nằm trong hang, sư tử bảo chó rừng hãy trèo lên đỉnh núi để quán sát các thung lũng phía dưới, nếu thấy muốn ăn thịt con voi, con ngựa hay con trâu...nào thì hãy đến cung kính thưa với sư tử rằng: Thưa ông chủ, xin ngài hãy thể hiện sức mạnh của mình. Lúc đó Sư tử sẽ giết chết con thú đó để ăn thịt và cho chó rừng một phần. Từ đó, chó rừng thường leo lên những đỉnh núi cao, và mỗi khi nhìn thấy con thú nào bên dưới mà nó muốn ăn thịt thì nó sẽ thuật lại điều đó với sư tử bằng cách quý xuống nơi chân sư tử và nói: “Thưa ông chủ, xin ngài hãy thể hiện sức mạnh của mình.” Ngay sau đó, sư tử sẽ nhanh chống đi đến giết chết con thú, dầu đó là một con voi động dục, rồi cùng với chó rừng ăn phần thịt ngon nhất. Chén no nê phần thịt của mình xong, chó rừng trở về hang của mình ngủ.

Thời gian trôi qua, chó rừng ngày càng trở nên to lớn và tính kiêu ngạo cũng bắt đầu xuất hiện. Nó tự nhủ: “Lẽ nào ta không phải là một sinh vật bốn chân? Vậy tại sao ngày lại ngày ta cứ làm kẻ nhận sự bố thí của kẻ khác chứ? Từ này về sau, ta sẽ tự giết voi và các loài thú khác để ăn thịt. Sư tử vua của loại thú chỉ giết chúng bằng thể thức: ‘Thưa ông chủ, xin ngài thể hiện sức mạnh của mình.’ Ta sẽ bắt sư tử gọi ta: ‘Thưa chó rừng, xin ngài hãy thể hiện sức mạnh của mình.’ Ta sẽ tự giết con voi để ăn thịt.” Nghĩ thế, nó đi đến sư tử, nói rằng lâu nay nó đã sống nhờ vào thịt thú mà sư đã giết, và bây giờ nó muốn ăn một con voi do chính nó giết. Rồi sau cùng nó yêu cầu sư tử hãy để cho nó nằm ở chỗ nằm của sư tử ở hang Vàng, trong khi sư tử phải leo lên đỉnh núi để tìm kiếm một con voi. Và khi nào thấy được con mồi, nó yêu cầu sư tử nên đến gặp nó ở trong hang và nói: “Thưa ngài chó rừng, xin ngài hãy thể hiện sức mạnh của mình.” Nó cầu xin sư tử đừng bực mình về điều này. Sư tử nói:

- Này chó rừng, chỉ có loài sư tử mới có thể giết được loài voi, chưa từng thấy trên đời này một con chó rừng có thể đương đầu nổi với loài voi. Từ bỏ ảo tưởng đó đi và hãy tiếp tục ăn thịt do ta giết.

Mặc dù sư tử nói như vậy nhưng chó rừng vẫn không từ bỏ ý định ấy, nó tiếp tục nài nỉ yêu cầu. Thế là cuối cùng sư tử đành chịu nhượng bộ, bảo chó rừng nằm trong hang, còn mình trèo lên đỉnh núi, và ở đấy sư tử đã nhìn thấy một con voi đang trong thời kỳ động dục. Sư tử quay về đứng nơi cửa hang và nói:

- Thưa ngài chó rừng, xin hãy thể hiện sức mạnh của mình.

Thế là từ trong hang Vàng, chó rừng lao nhanh ra khỏi hang, ngước đầu nhìn quanh bốn hướng và cất lên ba tiếng hú. Rồi nó nhảy vồ lên con voi, dự định túm chặt đầu voi. Nhưng không thể thành tựu được ý định đó, chó rừng bị rơi xuống nơi chân voi. Con voi tức giận, đưa chân phải của mình lên và nghiền nát đầu con chó rừng, chà nát xương nó thành bột. Rồi sau khi nghiền nát xác con chó và gom nó lại thành một đống, con voi đại tiện lên đấy rồi rống lên lớn tiếng và chạy vào rừng. Nhìn thấy toàn bộ sự việc này, Bồ-tát nói lên bài kệ:

Xác ngươi bị nghiền nát

Não ngươi biến thành bùn

Hôm nay ngươi chứng minh

Sức mạnh của chính mình.

Rồi Bồ-tát sống hết tuổi thọ và sau đó tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là chó rừng, còn ta chính là sư tử.

Chuyện số 144: CHUYỆN CÁI ĐUÔI BÒ (Tiền thân Nanguttha)

Ôi lửa thần hèn hạ...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những du sĩ lõa thể tà mạng Ajivikas. Tương truyền rằng, những du sĩ này thường thực hành những pháp tu khổ hạnh sai lạc ở phía sau tinh xá Kỳ Viên. Nhiều Tỳ-kheo cảm thấy bối rối khi nhìn thấy các du sĩ này chịu đau đớn để thực hành những phương pháp khổ hạnh như ngồi chồm hỗm, đu đưa qua lại trên không giống như những con dơi, nằm trên gai, tự đốt cháy mình bằng năm ngọn lửa và nhiều pháp tu khổ hạnh sai lạc khác, nên đã hỏi đức Thế Tôn rằng có lợi ích gì trong những pháp tu như vậy không. Đức Thế Tôn trả lời:

- Này các Tỳ-kheo, không có bất kỳ lợi ích nào cả trong các pháp tu đó. Vào đời trước, những bậc hiền trí nghĩ rằng những pháp tu khổ hạnh sẽ đem lại lợi ích nên đã mang ngọn lửa ngày sinh của mình vào rừng. Nhưng rồi nhận thấy rằng việc tế lễ lửa thần hay các pháp tu tương tự như vậy không đem lại kết qủa gì nên họ lập tức lấy nước dập tắt ngọn lửa ấy.  Rồi sau nhờ tu tập thiền định, họ đã đạt được Thắng trí cùng Thiền chứng và được sanh về Phạm thiên giới.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh vào một gia đình Bà-la-môn ở miền Bắc. Vào ngày sanh Bồ-tát, cha mẹ đã đốt lên ngọn lửa ngày sinh.

Năm Bồ-tát mười sáu tuổi, cha mẹ đã nói với Bồ-tát thế này:

- Này con trai, vào ngày sinh của con, cha mẹ đã đốt lên cho con một ngọn lửa sinh nhật. Bây giờ con hãy chọn lựa: nếu con muốn sống đời sống gia đình thì hãy học tập ba bộ Vệ-đà, còn nếu con muốn sanh lên Phạm thiên giới thì hãy mang ngọn lửa của con vào rừng và phụng thờ nó ở đấy, như vậy con sẽ được ân sủng của Đại Phạm thiên và về sau được sanh lên Phạm thiên giới.

Bồ-tát thưa với cha mẹ rằng đời sống gia đình không đem lại cho mình niềm vui. Sau đó đi Ngài đi vào rừng, dựng một thảo am để sống và phụng thờ ngọn lửa. Một hôm, dân chúng ở một ngôi làng biên địa đã cúng cho Bồ-tát một con bò. Khi dắt con bò về thảo am, Bồ-tát nghĩ sẽ cúng tế con bò cho Thần lửa. Nhưng thấy không có muối, và nghĩ rằng Thần lửa không thể ăn thịt dâng cúng của mình mà không có muối, nên Bồ-tát quyết định trở lại ngôi làng để xin muối. Thế rồi, Bồ-tát cột con bò và trở lại ngôi làng.

Trong khi Bồ-tát ra đi, một toán thợ săn đã kéo đến nơi ấy. Nhìn thấy con bò, họ liền giết nó để lấy thịt ăn buổi tối. Ăn uống xong, họ mang số thịt còn thừa ra đi, chỉ để lại cái đuôi, bộ da và bốn cái chân. Bồ-tát quay trở về, thấy chỉ còn lại những thứ này thì nghĩ: “Thần lửa này không thể hộ trì được cho chính mình thì làm sao hộ trì được cho ta chứ? Thật phung phí thời gian để săn sóc nó, trong khi nó không đem lại được chút thiện ích nào.”

Mất hết ý muốn phụng thờ Lửa thần, Bồ-tát nói:

- Hỡi Lửa thần, nếu ngài không thể hộ trì được cho chính ngài thì làm sao ngài có thể hộ trì được cho tôi? Thịt không còn nữa, vậy ngài phải dùng những thứ dư thừa này vậy.

Nói vậy xong, Bồ-tát ném vào ngọn lửa cái đuôi cùng những thứ mà những tên ăn trộm đã để lại, và ngài đọc lên bài kệ này:

Ôi thần lửa hèn hạ

Đây đuôi dành cho ngài

Hãy nghĩ mình may mắn

Vì nhận được quá nhiều!

Thịt ngon đã mất hết

Hôm nay hãy nhận đuôi!

Nói vậy xong, bậc Đại sĩ lấy lửa dập tắt ngon lửa và bỏ đi. Rồi Ngài xuất gia làm ẩn sĩ, chứng được Thắng trí cùng Thiền định, và về sau được sanh lên Phạm thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, ta chính là vị ẩn sĩ đã dập tắt ngọn lửa.

Chuyện số 145: CHUYỆN CON VẸT RADHA (Tiền thân Rādha)

Nửa đêm bao người đến...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo luyến ái người vợ cũ thuở còn tại gia. Những tình tiết của câu chuyện sẽ được trình bày ở chuyện số 423, Tiền thân Idriya.

Ở đây, đức Thế Tôn nói với Tỳ-kheo này:

- Này Tỳ-kheo, không thể canh giữ được nữ nhân, không thể canh giữ được dù có sắp đặt. Vào đời trước, chính thầy đã thấy rằng mọi canh gác của mình đều là vô ích, thế thì nay thầy có thể mong thành công được sao?

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm một con vẹt. Một Bà-la-môn ở nước Ca-thi (Kāsi) đã nhận làm cha của hai anh em Bồ-tát và đối xử với họ như con của mình. Bồ-tát có tên là Poṭṭhapāda, và người em có tên là Rādha.

Bấy giờ, Bà-la-môn này có một người vợ xấu xa trắc nết. Một hôm, có việc phải vắng nhà, Bà-la-môn đã nói với hai chú vẹt:

- Này hai con, nếu mẹ của hai con để tâm làm việc tà hạnh thì hai con hãy ngăn cản nhé.

Bồ-tát nói:

- Thưa cha, chúng con sẽ làm điều đó nếu chúng con thấy có thể. Còn nếu thấy không thể thì chúng con sẽ gữ im lặng.

Rồi sau khi giao hai chú vẹt cho vợ mình trông coi, Bà-la-môn liền ra đi. Từ ngày hôm đó, ngày nào vợ của ông cũng làm điều tà hạnh. Những tình nhân của bà ra vào nhà không ngớt. Bức xúc khi thấy cảnh này, Radha nói với Bồ-tát:

- Anh ạ, cha chúng ta trước lúc ra đi có bảo chúng ta phải ngăn chặn việc làm tà hạnh của mẹ, bây giờ mẹ suốt ngày không làm điều gì ngoài hành tà hạnh. Vậy chúng ta hãy ngăn chặn mẹ.

Bồ-tát nói:

- Này em, em nói năng thật điên rồ. Dù em có thể dùng tay mang bà ta đi thì cũng không thể giữ được bà ta. Chớ có làm điều không thế ấy.

Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ:

Nửa đêm bao người đến

Này em, em có hay?

Em thật quá khờ dại

Khi có ý định này.

Tình người vợ không thể

Kiềm chế dục bà này.

Trình bày lý do như vậy xong, Bồ-tát không cho phép em mình nói với nữ Bà-la-môn. Và bà này cứ vậy tiếp tục làm điều tà quấy một cách thỏa thích trong lúc chồng vắng nhà. Khi trở về, Bà-la-môn đã hỏi Potthapada về việc làm của vợ mình. Bồ-tát đã thành thật thuật lại tất cả những gì đã xảy ra và nói:

- Thưa cha, tại sao cha lại đi quan hệ với một phụ nữ xấu xa như vậy.

Rồi Bồ-tát nói thêm:

- Thưa cha, con đã thuật lại với cha những việc làm xấu xa của mẹ con, bây giờ chúng con biết là mình không thể ở đây được nữa.

Nói vậy xong, Bồ-tát cúi lạy nơi chân vị Bà-la-môn rồi cùng với Radha bay vào rừng.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn thuyết giảng Tứ thánh đế. Kết thúc thời pháp, Tỳ-kheo luyến ái người vợ cũ tại gia chứng được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, hai vợ chồng này là hai vợ chồng Bà-la-môn, A-nan là Rādha, còn ta chính là Potthapāda.

Chuyện số 146: CHUYỆN CON QUẠ (Tiền thân Kāka)

Cổ chúng ta mệt mõi...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một số Tỳ-kheo lớn tuổi. Tương truyền rằng, những người này khi còn sống đời tại gia, họ là những vị điền chủ giàu có ở thành Xá-vệ và đều là bạn bè của nhau. Rồi khi cùng nhau làm việc phước đức, họ đã được nghe đức Thế Tôn thuyết giảng. Họ nói:

- Chúng ta nay đã già. Nhà cửa, gia sản nay đối với chúng ta còn có nghĩa gì chứ? Vậy chúng ta hãy xuất gia, thực hành theo giáo pháp từ bi của đức Phật để diệt trừ khổ đau.

Thế là họ chia hết tài sản của mình cho các con. Rồi từ giã quyến thuộc đang đầm đìa nước mắt, họ đến đảnh lễ đức Thế Tôn cầu xin xuất gia. Nhưng khi gia nhập vào Tăng đoàn, họ đã không thực hành theo đời sống của người xuất gia. Và bởi vì tuổi đã cao, họ không thông hiểu được Giáo pháp. Giống như khi còn sống đời gia chủ, bây giờ đã là Tỳ-kheo họ cũng vậy, họ xây dựng một xóm am thất bên cận tinh xá và sống với nhau ở đấy. Còn mỗi khi đi khất thực, họ thường đến nhà vợ, nhà con cái của mình và ăn uống tại đấy. Ngoài ra, các vị lớn tuổi này thường được bà vợ của một người trong họ cúng dường, và họ thường mang thức ăn khất thực được đến nhà này để ăn ở đấy cùng với món canh, ca ri mà bà này cung cấp. Rồi khi ba này bị bệnh và qua đời, các Tỳ-kheo lớn tuổi trở về tinh xá, bắt đầu ôm cổ nhau đi quanh khóc than về cái chết của người thí chủ đã cúng dường canh và ca ri cho họ.

Nghe tiếng khóc than ồn ào của những người này, các Tỳ-kheo muốn biết nguyên nhân khiến những người kia đau khổ nên đi đến nơi ấy. Rồi những Tỳ-kheo lớn tuổi đã kể lại sự kiện người thí chủ tốt bụng của họ đã qua đời, và rằng họ khóc bởi họ đã mất bà ta, sẽ không bao giờ được gặp bà nữa. Các Tỳ-kheo sửng sốt trước cách hành xử sai trái này. Sau đó, chư vị tập họp lại trong Chánh pháp đường và bàn về nguyên nhân khiến những Tỳ-kheo lớn tuổi kia đau khổ. Đức Thế Tôn bước vào Chánh pháp đường và hỏi chư vị đang bàn luận điều gì. Khi nghe vấn đề, Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, vào đời quá khứ, cũng chính cái chết của người phụ nữ này đã khiến cho họ đi khắp nơi khóc than. Thuở đó, khi bà ta là một con qụa và bị chết đuổi ngoài biển, những người này đã khổ nhọc tát nước, nghĩ rằng sẽ làm cạn nước biển để tìm kiếm nó. Và rồi họ được người hiền trí cứu giúp.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một vị thần biển. Bấy giờ, có một con quạ cùng với vợ mình đáp xuống tìm mồi trên bờ biển, nơi mà một vài người vừa bỏ đi sau khi dâng cúng cho rắn thần sữa, cơm, cá, thịt, rươu...Con quạ cùng với vợ bay đến ăn thỏa thích những đồ cúng tế và uống rất nhiều rượu, và cả hai đều bị say. Sau đó vì muốn chơi đùa trên biển nên chúng đã bơi trên những con sóng để nô đùa. Khi ấy, một cơn sóng ập đến cuốn con qụa mái đi và một con cá đã bơi đến nuốt lấy nó.

- Ôi, người vợ đáng thương của tôi bị chết rồi.

Con quạ trống kêu lên và sầu bi khóc than. Nghe tiếng than khóc của nó, một đàn quạ đông đúc đã kéo đến nơi ấy và hỏi con quạ trống rằng điều gì đã làm cho nó khổ đau. Và khi nghe nó kể lại sự việc vợ nó đã bị sóng cuốn trôi ra biển, cả đàn quạ cùng đồng thanh khóc than. Bất chợt chúng khởi lên suy nghĩ rằng, chúng có sức mạnh hơn biển cả, và rằng tất cả chúng phải tát cạn biển để cứu người bạn của chúng! Thế là chúng bắt đầu dùng mỏ hớp từng ngụm nước để làm cạn biển. Rồi khi cổ họng chúng bị nước muối làm cho đau rát chúng bèn lên bờ nghỉ ngơi. Cứ như vậy chúng quần quật làm việc, mãi đến khi miệng và hàm của chúng khô cháy còn mắt của chúng đỏ ngầu lên, và chúng sắp rơi xuống vì kiệt sức. Thế rồi trong nỗi tuyệt vọng, chúng họp mặt lại và nói với nhau:

- Thật vô ích khi chúng ta dóc sức tát cạn nước biển. Vì khi chúng ta vừa lấy nước đem đi đổ thì tại chỗ đó nước đã đầy lại ngay. Chúng ta cứ mãi làm thế này những sẽ không bao giờ tát cạn được nước biển.

Nói vậy xong, chúng đọc lên bài kệ:

Cổ chúng ta mệt mõi

Miệng chúng ta cháy khô

Nhưng biển cả thì vẫn

Đầy mãi không khô cạn.

Sau đó, cả đàn quạ bắt đầu cất tiếng ca ngợi vẻ đẹp của quạ cái:

- Ôi! Mắt, mỏ, lông và hình dáng của nàng thật đẹp; tiếng nói của nàng thật dịu ngọt. Chính vẻ đẹp của nàng đã khiến biển cả ghen tức nên biển đã cướp nàng đem đi.

Và khi chúng cùng cất lên những lơi vô nghĩa này thì thần biển từ ngoài khơi, hoá hiện thành một con yêu quái đến đuổi chúng đi, và nhờ cách đó chúng được an toàn.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, vợ của Tỳ-kheo lớn tuổi là con quạ mái, người chồng là con quạ trống, các Tỳ-kheo lớn tuổi kia là đàn quạ, còn ta chính là thần biển.

Chuyện số 147: CHUYỆN ÁO VẢI ĐỎ (Tiền thân Puppharatta)

Ta không đau nỗi đau...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo luyến ái. Bấy giờ đức Thế Tôn hỏi:

- Này Tỳ-kheo, có thật là thấy luyến ái không?

- Bạch Thế Tôn, thật có như vậy?

- Thầy luyến ái ai?

- Bạch Thế Tôn, đó là người vợ cũ thuở con còn tại gia. Cô ấy là một phụ nữ quá duyên dáng và xinh đẹp đến độ con không thể sống khi thiếu cô ấy.

Đức Thế Tôn nói:

- Này Tỳ-kheo, cô ta có hại cho thầy đấy. Vào đời trước, chính vì cô ta mà thầy bị đâm trên cọc nhọn, và chính vì lúc sắp mạng chung thầy cứ lảm nhảm khóc thương cô ta mà đã bị tái sanh vào địa ngục. Thế thì tại sao bây giờ thầy lại luyến ái cô ta.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ sau.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm vị thần ở trên không trung. Bấy giờ tại Ba-la-nại, lễ hội đêm Kattikā được tổ chức. Thành phố được trang hoàng như thành phố của chư thiên, và mọi người đều tham gia lễ hội. Có một người đàn ông nghèo nọ chỉ có một đôi áo vải thô. Anh ta giặt và ủi đôi áo cho đến khi áo có đến trăm ngàn nếp gấp. Nhưng vợ anh ta nói:

- Chàng ạ, khi choàng vai chàng đi chơi hội, thiếp muốn có một chiếc áo màu đỏ để mặc ngoài và một chiếc để mặc trong.

- Nàng ạ, nghèo như chúng ta thì kiếm đâu ra áo màu đỏ. Hãy mặc chiếc áo sạch đẹp này để đi chơi hội vậy.

- Nếu không có những chiếc áo màu đỏ thì thiếp không đi chơi đâu cả. Chàng hãy kiếm một nữ nhân khác mà cùng đi chơi hội.

- Sao nàng lại làm khổ ta vậy? Chúng ta làm sao kiếm được áo đỏ chứ?

- Mỗi khi đã muốn thì sẽ có cách.  Không phải trong kho của vua có áo màu đỏ sao?

- Nàng ạ, kho của nhà vua thì như cái hồ có quỷ dạ xoa ở. Ở đó được canh giữ chặt chẽ nên không thể vào được. Hãy từ bỏ ảo tưởng này đi và bằng lòng với những gì nàng có.

- Nhưng vào ban đêm tối trời thì có điều gì ngăn chặn được một người muốn đến nơi mình thích?

Cô ta khăng khăng nài nỉ như vậy, và chàng trai vì yêu cô nên đã chịu nhượng bộ và hứa sẽ làm theo ý muốn của cô. Liều cả mạng sống, vào ban đêm, chàng trai đi ra khỏi thành, phá hàng rào và đột nhập vào kho vua. Tiếng động do việc phá rào đã đánh thức những người canh gác. Họ vùng dậy và bắt lấy tên trộm. Rồi khi bắt được anh ta, họ chửi rủa, đánh đập và trói anh ta lại. Vào sáng hôm sau, họ đưa anh ta đến trước nhà vua. Nhà vua lập tức hạ lệnh lấy cọc nhọn đâm sống anh ta. Thế là họ trói hai tay anh ta lại sau lưng, kéo anh ta ra khỏi kinh thành cùng với tiếng trống báo hiệu hành quyết, rồi sau đó đâm sống anh ta. Anh ta cảm thấy đớn đau cực độ. Thêm nữa, những con qua đậu ở trên đầu anh ta đã dùng miệng nhọn như dao găm mổ mắt anh ta. Tuy vậy, anh ta không để ý đến nỗi đớn đau ấy mà chỉ nghĩ đến vợ mình. Anh ta than khóc: “Ôi, vậy là ta không được đi chơi lễ hội với nàng khi nàng mặc áo màu hoa đỏ và quàng tay qua cổ ta.”

Than vậy xong, anh ta đọc lên bài kệ:

Ta không đau nỗi đau

Bị cọc nhọn đâm qua

Cũng không đau nỗi đau

Qụa mổ vào mắt ta.

Mà nỗi đau thật sự

Là vợ ta không được

Mặc áo màu hoa đỏ

Tham dự ngày lễ hội.

Anh ta lảm nhảm về vợ của mình như vậy, rồi sau đó chết và tái sanh về địa ngục.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Hai vợ chồng bây giờ cũng chính là hai vợ chồng thuở ấy, còn ta thuở ấy là vị Thần ở trên không trung đã chứng kiến toàn bộ câu chuyện.

Chuyện số 148: CHUYỆN CON CHÓ RỪNG (Tiền thân Sigāla)

Một lần khiếp đến già...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc ly dục.

Chuyện kể rằng, có năm trăm người bạn giàu có, là con trai của những phú thương ở thành Xá-vệ, sau khi nghe đức Thế Tôn thuyết giảng, đã phát khởi niềm tin vào giáo pháp và xuất gia sống ở tinh xá Kỳ Viên, nơi mà Trưởng giả Cấp Cô Độc đã mua nó bằng số tiền vàng lát khắp khu vườn.

Một hôm nọ, vào lúc nửa đêm, những niệm tưởng dục tham khởi lên trong tâm trí của những vị này, và trong cơn phiền não ấy, họ đã chấp trước những dục tham mà họ đã từ bỏ. Vào lúc ấy, đức Thế Tôn dương lên ngọn đèn nhất thiết trí của mình để soi xét xem các Tỳ-kheo ở Kỳ Viên có bị dục tham chi phối hay không. Và khi quán chiếu tâm tưởng của những người này, Ngài nhận biết rằng các dục tham đang khởi lên trong tâm họ. Như người mẹ chăm sóc đứa con duy nhất của mình, hay như người bị chột mắt cẩn thận với con mắt còn lại, đức Thế Tôn chăm sóc những đệ tử của mình cũng như thế. Vào buổi sáng hay bất cứ thời khắc nào phiền não sinh khởi, xung đột trong tâm người đệ tử, Ngài sẽ không để cho họ bị phiền não khống chế trói buộc mà ngay trong chính thời khắc ấy, Ngài sẽ chế ngự những dục tham ấy của họ. Do vậy, đức Thế Tôn nghĩ: “Sự kiện này cũng giống như khi những tên trộm đột nhập vào kinh thành của một vị vua, nay ta sẽ thuyết giảng giáo pháp ngay cho những Tỳ-kheo này, để họ chế ngự phiền não và chứng đắc A-la-hán.”

Vì thế, Ngài ra khỏi hương phòng, và bằng âm thanh dịu ngọt đã gọi Tôn giả A-nan, bậc Pháp tạng đến. Tôn giả A-nan đi đến và cung kính đứng hầu một bên chờ Ngài sai bảo. Thế rồi, đức Thế Tôn bảo Tôn giả hãy tập họp tất cả các Tỳ-kheo sống ở Kỳ Viên lại trong hương thất của mình. Tương truyền, bấy giờ đức Thế Tôn nghĩ rằng nếu chỉ triệu tập năm trăm Tỳ-kheo này thì họ sẽ cho rằng Ngài đã biết được tâm tưởng phiền não của họ, vì thế sẽ sinh lòng bối rối và rồi không đến tiếp nhận Giáo pháp, do đó Ngài đã cho tập họp tất cả các Tỳ-kheo trú ở Kỳ Viên. Tôn giả A-nan cầm chìa khoá đi hết phòng này đến phòng khác để tập họp các Tỳ-kheo cho đến khi tất cả đều tập họp lại trong hương phòng. Rồi Tôn giả sửa soạn Phật tọa. Trong oai nghi trang nghiêm như núi Tu di tựa trên mặt đất vững chắc, đức Thế Tôn ngự lên Phật tọa, phát chiếu hào quang từng vòng từng vòng chồng lên nhau như những vòng hoa sáu màu. Hào quang ấy phân chia thành từng khối lớn kích cỡ như cái đĩa, như cái lộng, như ngọn tháp, cho đến khi như những tia sáng chiếu tận đến thiên giới, giống như khi mặt trời mọc làm chuyển động đáy biển sâu.

Với tâm thành kính vô biên, các Tỳ-kheo đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống xung quanh Ngài, như bao quanh Ngài bằng một tấm màn màu đỏ cam. Rồi bằng Phạm âm, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

- Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo thì không nên nuôi dưỡng ba ý tưởng bất thiện: dục, sân và hại. Đừng bao giờ cho rằng các phiền não khởi lên trong tâm là vấn đề nhỏ nhặt. Vì các phiền não thì giống như kẻ thù, mà kẻ thù thì không thể là vấn đề nhỏ, mỗi khi có cơ hội thì kẻ thù sẽ huỷ diệt tất cả. Cũng như vậy phiền não, mặc dầu nhỏ lúc bắt đầu mới sanh khởi, nhưng khi có điều kiện để phát triển lên thì nó sẽ hủy diệt tất cả. Phiền não thì như thuốc độc ở trong thức ăn, như mụt ngứa ở trên da, như sấm sét; hãy tránh xa nó, phải sợ hãi nó. Hãy lập tức diệt trừ phiền não mỗi khi chúng khởi lên, đựng để chúng ẩn náu một giây phút nào ở trong tâm. Phải nên loại trừ chúng ngay bằng sức mạnh của giác sát, giống như giọt nước mưa lăn trôi lập tức khi rơi trên lá sen. Những bậc hiền trí thuở trước, dầu một phiền não nhỏ cũng vô cùng căm ghét, tìm cách diệt trừ nó trước khi nó phát triển mạnh lên.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khư này.

* * *

Thuở xưa, Khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con chó rừng, sống bên bờ sông trong một khu rừng nọ. Bấy giờ, có một con voi già nằm chết bên bờ sông Hằng. Và chó rừng trong khi đi kiếm mồi, đã lấy làm sung sướng khi nhìn thấy một khối thịt lớn như vậy. Trước tiên chó cắn vào vòi con voi, và thấy rằng nó giống như cái cán cày. “Cái này không thể ăn được,” chó rừng nói và cắn vào cái ngà. Nhưng cắn vào ngà thì như cắn vào xương. Thế rồi chó thử cắn vào tai voi, nhưng cắn lỗ tai thì như cắn vành cái rỗ sàng lúa. Thế là chó trở qua cắn cái bụng, nhưng thấy rằng cái bụng thì như cái thúng đựng hạt. Những cái chân cũng không tốt hơn gì, vì chúng giống như cái cỗi giã. Chó tiếp tục cắn lấy cái đuôi, nhưng cái đuôi thì giống như cái chày. “Không thể ăn được thứ này.” Chó rừng nói. Rồi khi không tìm ra được nơi nào có thể ăn được, chó rừng bèn thử cắn vào bộ phần đại tiện của con voi và nhận thấy rằng nó mềm như một cái bánh. Chó nói: “cuối cùng thì ta cũng đã tìm ra được một nơi có thịt mềm.” Rồi nó theo nơi thích hợp ấy mà ăn vào trong bụng. Ở trong bụng, chó ăn cật, tim...và uống máu để giải khát. Và khi đêm đến, chó nằm ngủ ở trong đó. Khi nằm ở trong ấy, chó rừng nghĩ: “Cái xác thú này vừa cung cấp thịt lại vừa làm nhà cho ta, vậy cớ gì ta phải xa rời nó chứ?” Vì thế chó ở lại sống trong bụng voi và ăn dần những thứ trong ấy. Thời gian trôi qua, ánh nắng mặt trời cùng những cơn gió mùa hè đã làm cho bộ da con voi khô cứng và nhăn nhúm lại, cho đến khi bít lấp lối mà trước đây con chó đi vào. Và thế là phần bên trong bụng voi bây giờ hoàn toàn tối tăm. Như vậy, con chó sống tách biệt với thế giới bên ngoài, bị giam cầm nơi nghĩa địa giữa cuộc đời. Rồi da và thịt con voi bị khô cứng lại còn máu thì cạn kiệt. Con chó sợ hãi tuyệt vọng, chạy quanh và đập vào khắp nơi trong bụng con voi để mong tìm đường thoát thân, nhưng sự cố gắng chỉ là vô ích. Như thế, nó cư nhảy lên nhảy xuống trong đó như một cục bột ở trong nồi nước đang sôi. Rồi một trận mưa giông đổ xuống. Trận mưa như trút nước đã làm ẩm bộ da thú, khiến nó nở ra và phục hồi lại hình dạng trước đây của nó, cho đến khi xuất hiện đốm sáng như hình một ngôi sao chiếu xuyên qua con đường mà trước đó con chó đi vào.

- Ta đã được cứu sống rồi!

Con chó rừng kêu lên và từ phía đầu voi nó lao tới lối đi ra. Nó xoay xở và thoát ra ngoài, nhưng tất cả lông lá đều rơi rụng hết dọc lối đi ra. Trước tiên nó bỏ chạy, sau đó nó dừng lại nghỉ, ngồi xuống và ngắm nhìn cái thân thể giờ đây trơ trụi như một khúc cây cọ dừa. Chó rừng kêu than:

- Ôi, bởi chính lòng tham của ta mà ta gặp nỗi bất hạnh này. Từ đây về sau, ta sẽ không để cho tham dục chi phối cũng không bao giờ chun vào xác một con voi nào nữa.

Và nỗi khiếp sợ của chó rừng đã được biểu lộ qua bài kệ này:

Một lần khiếp đến già

Ôi thật là đáng sợ

Từ này ta xa lấn

Cái bụng của con voi.

Nói vậy xong, chó rừng bỏ chạy, không bao giờ giám nhìn xác con voi ấy hay bất cứ xác con voi nào khác. Từ dạo ấy, chó rừng không còn bị tham dục chi phối nữa.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, đừng bao giờ để phiền não bám chặt ở trong tâm. Hãy nhiếp phục chúng ngay nơi chúng sanh khởi.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ thánh đế. Kết thúc thời pháp, năm trăm Tỳ-kheo đó chứng được quả A-la-hán. Những vị còn lại, một số chứng được Dự lưu, một số chứng được Nhất lai, và một số chứng được Bất lai. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, ta chính là con chó rừng.

Chuyện số 149: CHUYỆN MỘT CHIẾC LÁ (Tiền thân Ekapanna)

Cây này dẫu còn nhỏ...

Trong khi trú ở căn nhà có nóc tại Đại lâm gần Tỳ-xá-li (Vesāli), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một vị thái tử Licchavi độc ác ở Tỳ-xá-li.

Bấy giờ, thành Vệ-xá-li được hưởng thịnh vượng diệu kỳ. Kinh thành này có ba lớp thành bao quanh, mỗi lớp cách nhau khoảng một phần tư dặm, và có ba cổng đi vào cùng với những tháp canh. Trong kinh thành đó, luôn luôn có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy vị vua cai trị vương quốc. Số phó vương, tướng lĩnh và quan thủ khố cũng tương đương như vậy. Trong số các vị thái tử của các vua này, có một người được mệnh danh là Thái tử Licchavi Độc ác, là một chàng trai hung dữ, sân hận và thô lỗ, luôn trừng phạt và đánh đập người khác giống như một con rắn điên. Vì bản tính sân hận như vậy nên trước mặt chàng ta, không một người nào có thể mở miệng nói quá hai ba lời. Cha mẹ, thân tộc, bàn bè không ai có thể cải đổi chàng ta được. Cuối cùng, cha mẹ chàng trai bất trị này quyết định đưa chàng đến gặp đức Phật Toàn Giác, vì nhận thấy rằng không có người nào ngoài Ngài có thể điều phục được tính khí hung dữ của con mình. Thế là họ đưa chàng trai đến gặp đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ và cầu xin Ngài khuyên dạy cho chàng. Đức Thế Tôn nói với thái tử:

- Này thái tử, làm người thì không nên sân hận, thô lỗ và hung ác. Người hung ác thì đối với chạ mẹ đã sinh ra mình, đối với con  cái, đối với anh chị em, và đối với vợ lẫn bạn bè cùng thân tộc họ luôn thô bạo và không có từ tâm. Kẻ ấy gây ra nỗi sợ hãi, giống như một con rắn lao đến cắn người, như tên cướp trong rừng nhảy đến chỗ nạn nhân, như con quỷ dạ xoa đi đến ăn thịt. Người nào hung dữ thì sau khi mạng chung sẽ lập tức bị tái sanh vào địa ngục hoặc những ác thú. Và ngay trong đời này, dầu khéo được trang sức thì kẻ ấy vẫn trông xấu xí. Mặt kẻ ấy dù đẹp như mặt trăng tròn đầy cũng sẽ hoá thành xấu xí như hoa sen bị lửa đốt cháy xém, như gương vàng bị hư hỏng do dơ bẩn. Chính sự hung dữ như vậy đã đưa người ta đến chỗ dùng gươm tự sát, uống thuốc độc, treo cổ và gieo mình xuống vực thẳm. Chính vì tính khí hung dữ như vậy nên khi mạng chung đã bị tái sanh vào ác thú. Cũng như vậy những ai làm hại người khác, ngay trong đời này họ bị người khác căm ghét và sau khi bỏ thân mạng sẽ bị đọa vào địa ngục do những ác nghiệp đã tạo. Còn khi được tái sinh lại làm người, họ sẽ bị các thứ bệnh tật về tai, mắt...vây lấy từ lúc sinh ra cho đến lúc nhắm mắt. Do đó cần phải tu tập từ tâm và làm việc thiện, nhờ thế sẽ thoát khỏi nỗi sợ hãi về địa ngục và hình phạt.

Như vậy, nhờ sức mạnh của bài thuyết giáo này mà lòng kiêu mạn của thái tử lập tức được nhiếp phục. Lòng kiêu mạn và tính ích kỷ biến mất khỏi thái tử. Tâm tính biến đổi, thái tử trở thành người có nhân từ và thương yêu. Thái tử không còn mắng chửi hay đánh đập ai nữa, trở nên hiền lành như một con rắn bị nhổ mất răng nọc, như con cua bị bẻ gảy càng, như con bò bị bẻ gảy sừng.

Nhìn thấy tính khí thái tử thay đổi như vậy, các Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường và nói về sự kiện Thái tử Licchavi Độc Ác, người mà cha mẹ dầu có khuyên bảo mấy vẫn không thể cải đổi được, đã được đức Phật Toàn Giác nhiếp phục chỉ bằng một lời thuyết giáo. Và sự kiện đó giống như việc thuần phục sáu con voi động dục trong cùng một lúc. Rồi các Tỳ-kheo tán thán sự kiện này:

- Thưa các pháp hữu, như người huấn luyện voi huấn luyện con voi cho thuần thục, bắt nó rẽ phải hoặc trái, đi lui hay đi tới theo ý muốn của mình; tương tự như vậy đối với người huấn luyện ngựa và huấn luyện bò cùng với ngựa và bò của mình. Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác cũng như thế, Ngài huấn luyện và nhiếp phục con người, hướng dẫn con người đến bất cứ nơi đâu mà Ngài muốn theo tám hướng, khiến cho đệ tử của mình phân biệt được các hình tướng bên ngoài. Như vậy đức Phật, và chỉ có Ngài mới được gọi là bậc vô thượng trong các Đạo sư huấn luyện, là bậc tối thượng trong việc điều phục con người. Thưa các pháp hữu, thật không có bậc huấn luyện nào giống như đức Phật Chánh Giác.

Bấy giờ, đức Thế Tôn bước vào Chánh pháp đường và hỏi các Tỳ-kheo đang bàn luận điều gì. Khi được thuật lại vấn đề, Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu tiên chỉ với một lời thuyết giáo ta đã nhiếp phục được thái tử, mà đời trước ta cũng đã từng làm như vậy.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sanh vào đời làm một vị Bà-la-môn sống ở miền Bắc. Đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát đến Xoa-thi-la để học tập ba bộ Vệ-đà cùng tất cả các ngành học khác, và sau đó sống một thời gian đời sống thế tục. Rồi khi song thân qua đời, Bồ-tát xuất là làm ẩn sĩ, sống ở Tuyết sơn, chứng đắc được Thiền chứng và Thắng trí. Trú ở đấy một thời gian dài, cho đến khi cần muối và những vật phẩm cần thiết khác, ngài đã bước xuống con đường nhân thế để đi đến Ba-la-nại. Ở đấy, Bồ-tát trú ở ngự viên của vua. Ngày hôm sau, Bồ-tát ăn mặc cẩn thận, và trong chiếc y tốt đẹp nhất của một ẩn sĩ, ngài đi vào thành khất thực và đến cửa hoàng cung. Vua đang ngồi trong hoàng cung, nhìn qua cửa sổ và trông thấy Bồ-tát. Ông biểu lộ sự hoan hỉ khi thấy vị ẩn sĩ với oai nghi đoan chính, tâm ý thanh tịnh, giữ mắt nhìn thẳng, đi với giáng đi của sư tử, và tại mỗi bước chân đi như thể đang đặt xuống bọc tiền một ngàn đồng. Nhà vua nghĩ: “Nếu thiện pháp có mặt ở một nơi nào đó, thì nó phải ở trong con người này.” Vì thế cho gọi một vị cận thần thần đến, vua bảo vị cận thận hãy đi đưa ẩn sĩ đến gặp mặt. Vị cận thần đi đến chỗ Bồ-tát, cúng kính đảnh lễ rồi mang lấy bình bát từ tay ngài. Bồ-tát hỏi:

- Thưa ngài, có việc gì không?

- Thưa Tôn giả, đức vua cho mời ngài đến. Vị cận thần đáp.

Bồ-tát nói:

- Thưa ngài, tôi sống ở Tuyết sơn và tôi không hề biết đức vua.

Thế rồi vị cận thần trở lại và thuật với nhà vua điều này. Nhà vua nghĩ rằng mình không có vị cố vấn tâm phúc nên bảo vị cận thần đền mời Bồ-tát đến, và Bồ-tát bằng lòng đi đến.

Nhà vua cung kính đón Bồ-tát tại lối vào, thỉnh ngài ngồi lên ngai vàng được đặt dưới một cái lộng trắng, mời ngài ăn cao lương mỹ vị được chuẩn bị sẵn cho mình. Rồi nhà vua hỏi:

- Thưa Tôn giả, Tôn giả sống ở đâu?

- Thưa đại vương, tôi sống ở Tuyết sơn.

- Thế bây giờ Tôn giả đi đâu?

- Thưa đại vương, tôi đang đi tìm nơi để an cư mùa mưa.

Nhà vua đề nghị:

- Thưa Tôn giả, vậy Tôn giả hãy trú lại ngự viên của trẫm.

Bồ-tát chấp thuận lời đề nghị này. Rồi nhà vua ăn uống, sau đó cùng với vị khách của mình đi đến ngự viên. Ở đó, ông cho dựng một am thất có phòng dành cho ban ngày và phòng dành cho ban đêm, cung cấp đầy đủ tám loại đồ dùng cần thiết của một người xuất gia. Rồi sau khi để Bồ-tát ở lại đấy, nhà vua giao người làm vườn chăm sóc ngài và trở lại hoàng cung. Từ đó, Bồ-tát sống trong ngự viên của vua, và nhà vua một ngày hai ba lần đến viếng thăm Bồ-tát.

Bấy giờ, nhà vua có một vị thái tử hung dữ và sân hận, được mệnh danh là Thái tử Độc Ác, mà nhà vua cùng thân tộc không ai có thể chuyển đổi được. Tất cả các đại thần, Bà-la-môn và dân chúng chỉ cho thái tử thấy cách hành xử sai lầm của chàng nhưng đều vô hiệu. Chàng ta không thèm để ý đến những lời khuyên bảo của họ. Nhà vua nghĩ rằng chỉ có vị ẩn sĩ giới đức của mình may ra mới có thể chuyển hoá được thái tử nên đã đem thái tử đến giao cho Bồ-tát nhờ xin dạy bảo.

Rồi Bồ-tát cùng với thái tử đi dạo ở ngự viên, và họ nhìn thấy một cây Nimba vừa mới nảy mầm mà trên đó chỉ mới mọc ra hai lá, một lá bên này và một lá bên kia. Bồ-tát bảo.

- Này thái tử, hãy nếm thử chiếc lá của cây con này và xem mùi vị của nó thế nào.

Thái tử làm theo như vậy. Nhưng khi chiếc lá vừa mới bỏ vào miệng, thái tử đã vội khạc nhổ nó ra cùng với lời nguyền rủa. Bồ-tát hỏi:

- Này thái tử, lá cây ấy thế nào?

- Thưa Tôn giả, bây giờ cây này còn nhỏ mà đã như thuốc độc giết người, vậy nếu sau này lớn lên nó sẽ làm chết nhiều người.

Thái tử nói và lập tức dùng tay nhổ cây non ấy lên và vò nát, đoạn đọc lên những dòng này:

Cây này dẫu còn nhỏ

Chất độc đã chứa đầy

Thì khi nó to lớn

Nó sẽ là gì đây?

Nghe thế, Bồ-tát nói với thái tử:

- Này thái tử, vì sợ điều mà mầm cây độc này khi lớn lên sẽ gây ra nên thái tử đã nhổ nó lên và vò nát. Giống như thái tử đã làm đối với cây này, dân chúng của vương quốc này cũng thế, vì sợ điều mà một vị thái tử độc ác và sân hận khi lên làm vua sẽ làm, nên họ sẽ không để cho thái tử trị vì vương quốc mà nhổ bật thái tử lên như nhổ cây Nimba này và đuổi thái tử ra khỏi xứ sở. Do đó hãy lấy cây Nimba này để răn mình, từ này về sau phải sống khoan dung và thể hiện đầy đủ lòng từ bi.

Từ hôm đó, tâm tính của thái tử thay đổi. Chàng trở nên biết nhún nhường và ngoan hiền, đầy lòng khoan dung và bi mẫn. Rồi khi phụ vương băng hà, thái tử đã lên làm vua. Vâng theo lời khuyên dạy của Bồ-tát, chàng chuyên làm việc bố thí và các việc lành khác, rồi đến khi mạng chung đã đi theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ nay ta mới nhiếp phục Thái tử Độc Ác, mà vào đời trước ta cũng đã làm như vậy.

Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Thái tử Licchavi Độc ác là Thái tử Độc ác, A-nan là nhà vua, còn ta chính là vị ẩn sĩ đã thuyết giáo cho thái tử.

Chuyện số 150: CHUYỆN THANH NIÊN SAÑJĪVA (Tiền thân Sañjīva)

Ai ủng hộ kẻ ác...

Trong khi trú tại Trúc Lâm, đức Thế tôn kể câu chuyện này về mối kết giao của vua A-xà-thế (Ajātasattu) với kẻ xấu ác. Vua tin vào Đề-bà-đạt-đa, kẻ xấu xa và độc ác luôn chống đối chư Phật. Và với niềm tin mê cuồng ấy, vua tỏ lòng kính trọng Đề-bà-đạt-đa và bỏ ra một khoản tiền lớn trong việc xây cất một tinh xá tại Gayāsisa. Vâng theo lời khuyên bảo xấu ác của Đề-bà-đạt-đa, vua đã giết chết phụ vương, là một người giới đức đã chứng được quả Dự lưu, dó đó đã đoạn tân cơ may chứng quả Dự lưu và tự mang đại họa cho mình.

Khi nghe rằng Đề-bà-đạt-đa đã bị đất nuốt sống, A-xà-thế sợ rằng mình sẽ chịu chung số phận đó. Và vì quá hoảng hốt sợ hãi nên ông không còn nghĩ đến lợi ích của vương quốc, không ngủ trên giường, mà đi lang thang với tay chân run rẩy, như một con voi con bị đớn đau cùng tột. Rồi tưởng tượng, vua thấy mặt đất nứt ra đón mình, thấy những ngọn lửa từ dưới địa ngục phun lên. Ông thấy mình bị trói chặt trên một cái giường bằng kim loại đang bóc cháy với những cây giáo bằng sắt đâm thọc vào thân thể. Như một con gà bị thương, không giây phút nào vua thấy yên ổn. Rồi vua mong được gặp đức Phật Toàn Giác để giải hòa với Ngài, để cầu xin Ngài dìu dắt, nhưng bởi vì tỗi lỗi quá lớn nên ông không thể đến yết kiến đức Phật được.

Rồi đêm lễ hội Kattikā được tổ chức. Thành Vương xá được treo đèn và trang hoàng như kinh thành của chư thiên. Khi ngồi trên ngai vàng, nhà vua nhìn thấy Jīvaka Komārabhacca ngồi gần đó. Ông khởi lên ý tưởng là sẽ cùng với Jīvaka đi đến gặp đức Phật nhưng ông nghĩ rằng ông không thể nói thẳng là mình không thể đi một mình mà muốn Jīvaka đưa đi. Ông nghĩ cách tốt nhất là sau khi tán thán cảnh đẹp đêm lễ hội xong, ông sẽ ngồi nơi chân các Sa-môn và Bà-la-môn và hỏi các triều thần rằng vị đạo sư nào có thể làm cho tâm của ông được an lạc. Tất nhiên những người này sẽ ca tụng bậc đạo sư của riêng họ. Còn Jīvaka chắc chắn sẽ tán dương đức Phật Toàn Giác, và nhà vua sẽ cùng với Jīvaka đi đến đức Phật. Vì thế vua cất lên năm lời ca ngợi về đêm lễ hội như sau:

- Này các khanh, đêm sáng trăng này thật mỹ lệ thay! Đêm sáng trăng này thật tươi đẹp thay! Đêm sáng trăng này thật quyến rũ thay! Đêm sáng trăng này thật thú vị thay! Đêm sáng trăng này thật khả ái thay! Vậy sao trong đêm nay chúng ta không tìm đến một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó có thể giúp chúng ta có được an lạc?

Nghe thế, một vị đại thần giới thiệu Phú-lan-na Ca-diếp (Pūraṇa Kassapa), một đại thần giới thiệu Mạc-già-lê Cù-xá-lợi (Makkhali Gosāla), một đại thần giới thiệu A-kỳ-đa Kỳ-xá-khâm-bà-la (Ajita Kesakambala), một đại thần giới thiệu Bà-phù-đà Ca-chiên-diên (Kakudha Kaccāyana), một đại thần giới thiệu Tán-nhã-di Tỳ-ba-lê-phất (Sañjaya Belaṭṭhiputta), và một đại thần giới thiệu Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử (Nigaṇṭha Nāthaputta). Vua nghe danh xưng các vị đạo sư ấy nhưng vẫn giữ im  lặng. Ông chờ vị đại thần Jīvaka nói. Nhưng Jīvaka nghĩ không biết nhà vua có thật muốn mình nói hay không nên giữ im lặng. Cuối cùng nhà vua nói:

- Này Jīvaka, tại sao khanh không nói gì cả vậy?

Nghe hỏi vậy, Jīvaka bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính chắp tay hướng về nơi đức Thế Tôn đang trú và thưa:

- Thưa đại vương, đức Phật Toàn Giác cùng với một ngàn ba trăm năm mươi vị Tỳ-kheo đang trú tại vườn xoài của thần ở hướng kia. Đó là bậc đạo sự danh tiếng vang lừng.

Rồi Jīvaka tiếp đến nói lên chín đức tánh mô tả về đức Thế Tôn, bắt đầu bằng từ “Bậc A-la-hán”. Và sau khi trình bày rộng thêm rằng từ lúc sinh ra cho đến về sau này, năng lực của đức Phật vượt qua tất cả những lời tiên đoán và sự mong đợi trước đó, Jīvaka nói:

- Đại vương nên đi đến đức Thế Tôn để nghe pháp và hỏi đạo.

Đạt được sở nguyện, nhà vua bảo Jīvaka chuẩn bị voi, rồi với nghi thức long trọng đã đi đến vườn xoài của Jīvaka. Ở đó, ông nhìn thấy trong một cái rạp lớn ngập hương thơm, các Tỳ-kheo đang ngồi quanh đức Phật, tĩnh lặng như đại dương hoàn toàn lặng sóng. Nhìn nơi đâu, nhà vua cũng thấy hàng hàng lớp lớp các Tỳ-kheo, số lượng vượt qua bất cứ hội chúng nào mà ông đã từng nhìn thấy. Hoan hỉ khi trông thấy oai nghi của các Tỳ-kheo, nhà vua xá chào và nói lên lời tán thán. Sau đó, ông đảnh lễ đức Phật, ngồi xuống và  hỏi về kết quả của đời sống xuất gia. Đức Thế Tôn chia kinh Sa-môn Quả (Sāmaññaphala) thành hai phần và thuyết giảng. Cuối bài kinh, tâm tư hoan hỉ, nhà vua cầu xin đức Phật tha thứ cho lỗi lầm của mình, rồi đứng dậy cung kính đảnh lễ và ra về. Khi nhà vua vừa đi khỏi đó, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

- Này các Tỳ-kheo, vị vua này đã bị đánh bật ngã. Vị vua này nếu không vì tham vào quyền lực đến độ giết chết phụ vương chánh trực của mình thì ông ta đã chứng được pháp nhãn của một vị A-la-hán trước khi đứng dậy ra về. Nhưng do ủng hộ Đề-bà-đạt-đa một cách sai trái nên ông không chứng được quả Dự lưu.

Ngày hôm sau, các Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường và bàn về sự kiện này, nói rằng tội ác giết cha của vua A-xà-thế do cấu kết với Đề-bà-đạt-đa xấu ác đã làm cho ông không chứng được qủa Dự lưu, và như vậy chính Đề-bà-đạt-đa đã làm hại nhà vua. Khi ấy, đức Thế Tôn bước vào Chánh pháp đường và hỏi họ đang ban luận việc gì. Nghe thuật lại sự việc, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu A-xà-thế bị đau khổ do cấu kết, ủng hộ kẻ xấu ác, mà vào đời quá khứ vua cũng từng như vậy.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh vào một gia đình Bà-la-môn giàu có. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài đến Xoa-thi-la để theo học và nhận được sự giáo dục hoàn thiện ở đó. Trở về Ba-la-nại, ngài trở thành một vị sư trưởng nỗi tiếng thế gian với năm trăm thanh niên Bà-la-môn theo làm đệ tử. Trong số những người này, có một vị tên là Sañjīva, người được Bồ-tát dạy cho bùa chú làm vật chết sống lại. Bồ-tát dạy cho thanh niên bài chú này nhưng không dạy bài chú ngược lại. Vì kiêu ngạo với sức mạnh mới của mình, nên một hôm khi cùng với các đệ tử đồng học khác đi vào rừng lượm củi, vị này gặp một con cọp chết và nói:

- Hãy xem tôi làm cho con cọp này sống lại.

- Bạn không thể làm được. Những người khác nói.

- Vậy hãy xem, rồi các bạn sẽ thấy điều tôi làm.

- Thôi được, nếu bạn làm được thì hãy cứ làm.

Những người này nói và lập tức leo lên cây. Thế là Sañjīva đọc lên bài chú của mình và lấy mảnh gốm đập vào con cọp chết. Con cọp thình lình đứng dậy, và nhanh như chớp vồ lấy Sañjīva, cắn vào cổ họng của anh ta và giết chết anh ta ngay tại chỗ. Rồi sau đó con cọp rơi xuống chết ngay chỗ ấy và Sañjīva cũng rơi xuống tại chỗ ấy. Như vậy cả hai cùng nằm chết cận bên nhau.

Các thanh niên Bà-la-môn mang củi trở về, đến gặp sư trưởng của mình và thuật lại câu chuyện. Sư trưởng nói:

- Này các con, hãy xem sự việc này, bởi muốn tỏ lòng giúp đở kẻ xấu ác và do kính trọng kẻ không đáng kính trọng mà người này đã gặp tai họa như vậy.

Nói vậy xong, ngài đọc lên bài kệ này:

Ai ủng hộ kẻ ác

Giúp đở thứ nó cần

Thì như San-ji-va

Làm cho cọp sống lại

Lập tức bị cọp giết.

Bồ-tát thuyết giảng cho các thanh niên Bà-la-môn bằng bài kệ như vậy, rồi sau một đời bố thì và làm các thiện sự khác, ngài qua đời và đi theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, A-xà-thế là thành niên Bà-la-môn đã làm cho con cọp sống lại, còn ta chính là vị sư trưởng danh tiếng.

Chương I        Chương II       Chương III       Chương IV        Chương V    

Chương VI     Chương VII     Chương VIII     Chương IX        Chương X

Chương XI     Chương XII     Chương XIII     Chương XIV     Chương XV

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Hội PG Thảo Đường


  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp   


    Lịch sinh hoạt Phật sự

        

      Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem chi tiết lịch sinh hoạt  

      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh   


       

      Tôn ảnh Phật ngọc

       

       

         Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

      Đọc tiếp   

       

      Các trang web liên kết