CHUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

Tập 1 - Chương XII -  Phẩm thuyết vấn

Chuyện số 111: CHUYỆN CÂU HỎI CỦA CON LỪA (Tiền thân Gadrabha-Pañha)

Chuyện Câu hỏi của con lừa sẽ được kể đầy đủ ở Tiền thân Ummagga.

Chuyện số 112: CHUYỆN CÂU HỎI CỦA HOÀNG HẬU BẤT TỬ (Tiền thân Amarādevī)

Chuyện Câu hỏi của hoàng hậu Bất Tử cũng sẽ được kể ở Tiền thân Ummagga.

Chuyện số 113: CHUYỆN CHÓ RỪNG (Tiền thân Sigāla)

Chó rừng say kia đã lừa ông

Trong khi trú tại tinh xá Trúc lâm, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Đề-bà-đạt-đa.

Chư Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường và nói về sự kiện Đề-bà-đạt-đa đã dẫn năm trăm Tỳ-kheo đi đến Ka-da-kì-xá (Gayāsīsa), đưa họ vào con đường lầm lạc bằng cách tuyên bố rằng ông ta thực hành đúng Pháp còn Sa-môn Gô-ta-ma không thực hành đúng Pháp. Bằng cách nói dối như vậy, ông ta đã phá hòa hợp Tăng và tổ chức hai kỳ Bố-tát trong cùng một tuần. Khi họ ngồi ở đấy và bàn luận về việc làm xấu ác của Đề-bà-đạt-đa như vậy thì đưc Thế Tôn đi vào. Được kể lại vấn đề đang bàn luận, Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, cũng như bây giờ, vào đời quá khứ Đề-bà-đạt-đa cũng từng nói dối như vậy.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một vị Thần cây trú tại một khu rừng hoả táng. Bấy giờ, có một lễ hội được tổ chức tại Ba-la-nại, và người ta quyết định cúng tế cho các quỷ dạ xoa. Vì thế, họ đặt những bình rượu lớn và vãi cá thịt ra khắp sân, đường phố và những nơi khác. Vào lúc nửa đêm, một con chó rừng chun vào thành qua một ống cống, ăn thịt và uống rượu thoả thích, sau đó bò vào trong những bụi cây và nằm ngủ cho đến khi trời sáng. Thức dậy và nhìn thấy trời đã sáng, con chó biết nó không thể trở về an toàn vào giờ đó được. Vì thế, nó nằm im gần bên một con đường mà ở đấy không ai nhìn thấy nó. Sau đó, khi nhìn thầy một vị Bà-la-môn đi đến rửa mặt tại một hồ nước, con chó nghĩ: Các Bà-la-môn thường hay tham lam. Ta phải lợi dụng lòng tham của người này để y đưa ta ra khỏi thành bằng cách dấu ta bên hông dưới lớp áo choàng bên ngoài. Vì thế bằng giọng người, con chó gọi:

- Thưa Bà-la-môn.

- Ai gọi tôi thế? Bà-la-môn nói và nhìn quanh.

- Thưa Bà-la-môn, tôi gọi đấy.

- Có việc gì không?

- Thưa Bà-la-môn, tôi có hai trăm đồng tiền vàng. Nếu ông dấu tôi bên hông dưới lớp áo choàng bên ngoài và đưa tôi ra khỏi kinh thành mà không bị ai nhìn thấy thì tôi sẽ cho ông tất cả số tiền ấy.

Chấp nhận lời đề nghị này, vị Bà-la-môn tham lam dấu con chó trong người và mang nó ra khỏi thành bằng một con đường nhỏ. Con chó hỏi:

- Thưa Bà-la-môn, đây là nơi nào vậy?

Bà-là-môn nói với nó nơi đang đứng. Con chó nói:

- Vậy hãy đi thêm một quãng nữa.

Con chó cứ giục Bà-la-môn nhiều lần như vậy, cho đến cuối cùng đi đến khu rừng hỏa thiêu. Con chó nói:

- Hãy đặt tôi xuống đây.

Vị Bà-la-môn làm như vậy.

- Thưa Bà-la-môn, xin ông hãy trải áo ngoài của mình ra.

Vị Bà-la-môn tham lam cũng làm như vậy.

- Bây giờ ông hãy đào rễ của cây này lên.

Và trong khi vị Bà-la-môn đang làm công việc đó, con chó đi đến nơi chiếc áo và đại tiện lên đấy năm chỗ: tại bốn gốc và ở giữa áo. Làm như vậy xong, nó bỏ chạy vào rừng.

Ngay khi ấy, Bồ-tát đứng nơi chạc ba cây và đọc lên bài kệ này:

Chó rừng say kia đã lừa ông

Này Bà-la-môn có biết không?

Trăm tiền vỏ ốc còn chưa có

Nói chi tiền vàng hai trăm đồng.

Đọc xong bài kệ, Bồ-tát nói với Bà-la-môn:

- Này Bà-la-môn, giờ hãy đi tắm rửa và giặt áo đi.

Nói rồi ngài biến mất. Còn Bà-la-môn làm theo lời khuyên bảo, sau đó ra về với lòng vô cùng hổ thẹn vì bị đánh lừa.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là chó rừng, còn ta là vị Thần cây.

Chuyện số 114: CHUYỆN CON CÁ NGHĨ VỪA (Tiền thân Mitacinti)

Nghĩ nhiều và nghĩ ít

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về hai vị Trưởng lão lớn tuổi.

Sau khi trải qua kỳ an cư mùa mưa tại một khu rừng ở miền quê, hai Trưởng lão quyết định đi đến yết kiến đức Thế Tôn nên cùng chuẩn bị lương thực cho chuyến đi. Nhưng hết ngày nay sang ngày khác, họ cứ hoãn đi hoãn lại chuyến đi cho đến khi một tháng trôi qua. Sau đó họ lại chuẩn bị lương thực mới để lên đường, nhưng rồi cũng như trước, họ lại lần lữa trì hoãn cho đến khi tháng thứ hai, và tháng thứ ba trôi qua. Như vậy, vì tính chậm chạp và biếng nhác, họ phải mất hết ba tháng mới lên đường đến được Kỳ  Viên. Sau khi cất y bát ở phòng khách tăng, họ đi đến yết kiến đức Thế Tôn. Các Tỳ-kheo thấy hai vị này đã lâu không đến viếng thăm đức Thế Tôn thì hỏi nguyên do vì sao. Họ đã kể cho các Tỳ-kheo biết sự chậm chạp và lười biếng của họ.

Tập họp lại trong Chánh pháp đường, các Tỳ-kheo bàn luận về sự việc này. Đức Thế Tôn đi vào và hỏi vấn đề họ đang bàn luận. Khi nghe các Tỳ-kheo thuật lại vấn đề, đức Thế Tôn bèn hỏi hai vị này rằng có thật họ biếng nhác không. Họ thừa nhận có thật. Đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, cũng giống như bây giờ, vào đời trước, hai người này cũng biếng nhác và không muốn rời trú xứ của mình.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), có ba con cá sống ở sông Ba-la-nại. Tên của chúng là: Nghĩ Nhiều, Nghĩ Ít và Nghĩ Vừa. Từ rừng sâu, chúng theo dòng nước bơi đến nơi có loài người sống. Lúc ấy, Nghĩ Vừa nói với hai con kia:

- Đây là một nơi nguy hiểm và dễ gặp nạn, là chỗ loài người giăng lưới, đặt lồng bẫyđể bắt cá. Vậy chúng ta hãy trở lại rừng thôi.

Nhưng hai con cá kia vì quá lười biếng và tham luyến trú xứ mới nên hết ngày này sang ngày khác cứ lần lữa trì hoãn mãi cho đến khi ba tháng trôi qua. Bấy giờ, những người đánh cá đặt lưới của họ ở sông. Và khi cá Nghĩ Nhiều và Nghĩ Ít bơi đi kiếm thức ăn, do ngu si mù quáng nên đã đâm đầu vào lưới. Cá Nghĩ Vừa bơi sau, quan sát thấy cái lưới và biết được số phận của hai con cá kia. Nghĩ Vừa nghĩ: Ta phải cứu mạng hai con cá này. Vì thế, nó bơi quanh lưới và vẩy nước ở trước lưới, làm giống như một con cá đã sổng lưới bơi ngược lên dòng nước. Sau đó bơi ngược lại, cá vẩy nước phía sau lưới, làm giống như một con cá đã sổng lưới và bơi xuôi theo dòng nước. Thấy như vậy, những ngư phủ nghĩ rằng những con cá đã sổng lưới và bơi mất nên đã nắm lấy một góc lưới kéo lên. Hai con cá kia nhờ vậy thoát khỏi lưới và bơi ra dòng nước. Như vậy, nhờ Nghĩ Vừa mà hai con cá này đã thoát chết.

* * *

Kết thúc câu chuyện, đức Thế Tôn, bậc Chánh Giác đã đọc lên bài kệ này:

Nghĩ Nhiều và Nghĩ Ít

Hai cá bị mắc lưới

Sau nhờ Nghĩ Vừa cứu

Cả hai được thoát chết.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn thuyết giảng Tứ Thánh đế. Kết thúc thời pháp, hai Trưởng lão lớn tuổi đắc được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Hai Trưởng lão này thuở đó là Nghĩ Nhiều và Nghĩ Ít, còn ta chính là Nghĩ Vừa.

Chuyện số 115: CHUYỆN NGƯỜI KHUYÊN NGĂN (Tiền thân Anusāsika)

Khuyên ngăn những chim khác

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo ni đã khuyên ngăn những người khác.

Chuyện kể rằng, cô này xuất thân từ một gia đình hiền lương ở Xá-vệ, nhưng từ ngày gia nhập vào Tăng đoàn, cô đã không thực thi những bổn phận của một Ni giới mà tâm hồn luôn chứa đầy dục tham. Cô thường đi khất thức tại những nơi ở kinh thành mà các Tỳ-kheo ni khác không đến, và ở đầy cô được cúng dường những thức ăn ngon.

Bấy giờ, do lòng tham ăn, vì sợ những Tỳ-kheo ni khác đi đến khất thực tại những nơi mà mình khất thực và lấy hết phần ăn của mình, cô này đã khuyên ngăn các Tỳ-kheo ni khác để họ đừng đi đến những nơi đó. Cô nói với các Tỳ-kheo ni khác rằng, nơi đó là một nơi nguy hiểm, bị một con voi, con ngựa và con chó hung dữ quấy nhiễu. Nghe cô khuyên ngăn như vậy, nên không có một Tỳ-kheo ni nào dám nhìn về hướng đó.

Một hôm, trên đường khất thực ở vùng này, khi đang vội vã đi vào một ngôi nhà, cô bị một con cừu đực hung dữ húc mạnh vào và khiến cho bị gãy chân. Người ta chạy đến, nắn sửa lại chân cô, đặt cô lên một cái cáng và mang cô đến tịnh xá ni. Các Tỳ-kheo ni chê cười rằng: chân của cô này bị gãy là do đi đến nơi mà cô khuyên ngăn người khác đừng đến.

Không lâu sau đó, các Tỳ-kheo biết được chuyện này. Một ngày nọ, trong Chánh pháp đường, chư vị bàn luận về sự kiện Tỳ-kheo ni bị một con cừu đực hung dữ húc cho gãy chân ở tại một nơi mà cô khuyên ngăn những Tỳ-kheo ni khác đứng đến đó, và họ đã chê trách việc làm của cô này. Vừa lúc đó, đức Thế Tôn bước vào Chánh pháp đường và Ngài hỏi họ đang bàn luận điều gì. Khi nghe kể lại vấn đề đang bàn luận, Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, cũng như bây giờ, đời trước cô này cũng từng khuyên ngăn người khác còn bản thân mình thì không thực thi theo lời khuyên, để rồi đã gặp tai họa giống như bây giờ vậy.

Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát sinh làm một con chim, và khi trưởng thành, đã trở thành chim chúa, bay đến sống ở Tuyết sơn và dẫn dắt bầy chim hàng ngàn con. Trong khi bầy chim sống tại nơi đó, có một con chim cái hung dữ thường đi kiếm ăn dọc theo một con đường cái, và tại nơi đó nó thường kiếm được nhiều lúa, đậu và các thứ ngủ cốc khác do những xe chở hoa màu đánh rơi. Để ngăn cản những con chim khác đến đó, con chim cái này nói với chúng như sau:

- Này các bạn, con đường đó rất nguy hiểm. Dọc con đường đó có voi, ngựa, những cỗ xe do các con bò hung dữ kéo, và những thứ nguy hiểm như thế thường xuyên qua lại. Ở đó, các bạn không thể cất cánh lên nhanh được, vậy đừng có đến đó.

Và vì sự khuyên ngăn này, đàn chim đặt cho con chim cái này cái tên Khuyên Ngăn.

Một hôm, khi đang kiếm ăn dọc theo con đường cái đó, con chim cái nghe tiếng xe bò đang chạy nhanh đến. Nó quay đầu lại nhìn, nghĩ rằng chiếc xe còn cách xa nên nó cứ đi như trước. Cỗ xe như ngọn gió lao nhanh đến, và con chim không kịp cách cất đã bị bánh xe nghiền nát và cuốn nó theo vòng quay. Tập trung đàn chim lại, chim chúa thấy vắng mặt con chim cái này nên ra lệnh đi tìm nó. Những con chim đi tìm và thấy nó bị cán đứt làm hai trên đường, bèn đem điều đó trình lên chim chúa. Chim chúa nói:

- Do khuyên ngăn kẻ khác còn mình thì không thực thi theo nên con chim cái này đã bị cán đứt làm hai.

Nói xong, chim chúa đọc lên bài kệ:

Khuyên ngăn những chim khác

Còn mình lại tham mồi

Nên bị bánh xe kéo

Nghiền thân đứt làm đôi.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Tỳ-kheo ni khuyên ngăn người khác là con chim Khuyên Ngăn, còn ta là chim chúa.

Chuyện số 116: CHUYỆN NGƯỜI KHÔNG NGHE LỜI KHUYÊN (Tiền thân Dubbaca)

Vì thầy cố quá sức

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ kheo ngang bướng. Toàn bộ câu chuyện sẽ được trình bày ở Tiền thân Gijjha, số 427, tập Chín.

Ở đây, đức Thế Tôn khiển trách thầy này như sau:

- Này Tỳ-kheo, đời trước thầy cũng ngang bướng như bây giờ vậy, và do coi thường lời khuyên của bậc hiền trí mà thầy đã bị một cây giáo đâm chết.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình làm nghề biểu diễn nhào lộn. Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài trở thành một người tài giỏi thông minh. Bồ-tát học nghề múa giáo với một người biểu diễn nhào lộn khác, và Ngài thường cùng với thầy mình đi khắp nơi biểu diễn tài nghệ. Bấy giờ, người thầy của Bồ-tát biết múa qua bốn ngọn giáo mà không thể múa qua được năm ngọn giáo. Một hôm, khi biểu diễn tại một ngôi làng nọ, người thấy uống rượu say, đặt năm ngọn giáo thành một hàng và tuyên bố rằng sẽ nhảy qua chúng. Bồ-tát nói:

- Thưa thầy, thầy không thể nhảy qua cả năm ngọn giáo được. Hãy cất bớt đi một ngọn. Nếu thầy cố gắng nhảy qua cả năm, thầy sẽ bị ngọn giáo thứ năm đâm chết.

Vị thầy say rượu nói:

- Ngươi không biết gì cả. Ta có thể làm được việc này mỗi khi ta cố gắng.

Không thèm để ý đến lời khuyên của Bồ-tát, vị thầy nhảy qua các ngọn giáo, nhưng chỉ nhảy qua được bốn ngọn, đến ngọn thứ năm thì thân mình bị nó đâm xuyên qua như bông hoa Bassia mắc ở trên cành. Thế là vị thầy nằm ở đấy rên rỉ. Bồ-tát nói:

- Tai hoạ này xảy ra là do thầy không nghe theo lời khuyên của người hiền trí.

Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ:

Vì thấy cố quá sức

Bất chấp lời con khuyên

Nên qua được bốn giáo

Giáo thứ năm đâm xuyên.

Nói vậy xong, Bồ-tát nâng thầy mình lên khỏi mũi ngọn giáo và tiến hành những nghi thức cần thiết cuối cùng đối với thi thể này.

* * *

Kể xong câu chuyện, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, thầy Tỳ-kheo ngang bướng là người thầy, con ta là người học trò.

Chuyện số 117: CHUYỆN CHIM ĐA ĐA (Tiền thân Tittira)

Như gà gô bị giết

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Câu-ca-lợi-ca (Kokālika). Toàn bộ câu chuyện sẽ được trình bày ở Tiền thân Takkāriya, số 481, tập Mười ba. Ở đây, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, cũng như bây giờ vậy, trước đây Câu-ca-lợi-ca do vì lời nói của mình mà bị diệt vong.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình Bà-la-môn ở phương Bắc. Đến khi trưởng thành, Bồ-tát hoàn thành việc học ở Xoa-thi-la và sau đó từ bỏ các dục, xuất gia làm một vị tiên nhân ẩn sĩ, chứng được năm Trí và tám Thiền. Tất cả các ẩn sĩ tại Tuyết sơn gồm năm trăm vị đã họp lại và tôn Bồ-tát lên làm thầy của họ. Bồ-tát thọ hưởng thiền lạc và sống giữa hội chúng đệ tử ở tại Tuyết sơn.

Một hôm, khi một ẩn sĩ bị bệnh vàng da đang dùng rìu để đốn cây thì một ẩn sĩ nói nhiều đi đến ngồi bên cạnh và chỉ bảo cho vị đốn cây nên chặt chỗ này chỗ nọ. Vị ẩn sĩ bị bệnh vàng da nghe chỉ bảo vậy mãi, không kiềm chế được nên giận giữ hét lên:

- Ngươi là ai mà dạy ta cách đốn cây?

Nói rồi, vị này vung chiếc ríu có lưỡi sắc bén lên và giết chết vị kia bằng một nhát chém. Bồ-tát biết việc xảy ra liền cho đem chôn thi thể vị ẩn sĩ nói nhiều.

Bấy giờ, gần am thất các ẩn sĩ, có một con gà gô sống trên một ổ mối. Vào sáng sớm và chiều tối, gà gô thường đứng trên ổ mối này và gáy. Nghe tiếng con gà gô, một gã thợ săn lần đến, giết chết con chim và mang đi. Không còn nghe thấy tiếng gà, Bồ-tát hỏi các ẩn sĩ tại sao không còn nghe thấy tiếng gà gô kêu nữa. Các ẩn sĩ kể lại những gì đã xảy ra. Bồ-tát bèn liên kết hai sự kiện này lại bằng bài kệ:

Như gà gô bị giết

Vì hay cất tiếng kêu

Cũng như ẩn sĩ chết

Do chỉ bảo huyên thuyên.

Rồi Bồ-tát tu tập Tứ vô lượng tâm và về sau được sanh về Phạm thiên giới.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, cũng như bây giờ, đời trước Câu-ca-lợi do vì nói nhiều mà đã bị mất mạng.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Câu-ca-lợi-ca là ẩn sĩ nói nhiều, đệ tử của ta là hội chúng ẩn sĩ, còn ta là thầy của họ.

Chuyện số 118: CHUYỆN CON CHIM CÚT (Tiền thân Vattaka)

Người nào không suy nghĩ

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về con trai của một vị Đại phú thương.

Chuyện kể rằng, vị Đại phú thương này là một người rất giàu có ở thành Xá-vệ. Vợ của ông sinh được một người con trai đức hạnh, là thiên thần từ cõi Phạm thiên xuống đầu thai. Khi trưởng thành, chàng trai khôi ngô tuấn tú giống như một vị Phạm thiên. Bấy giờ, có lễ hội Kattikā được tổ chức tại thành Xá-vệ, và tất cả dân chúng cùng đến vui chơi lễ hội. Những người bạn của chàng trai con vị Đại phú thương, các chàng trai con nhà giàu có khác, ai ai cũng có vợ, riêng chàng trai này do vì sống quá lâu ở trên Phạm thiên giới, tâm gột sạch dục ái nên đã sống độc thân. Những người bạn của chàng muốn chàng đến vui chơi lễ hội với họ nên bày mưu kiếm cho chàng một người tình. Thế rồi họ đến gặp chàng và nói:

- Này bạn, lễ hội Kattika này rất lớn. Vậy có thể nào chúng tôi không kiếm cho bạn một người tình để cùng chơi đùa vui vẻ?

Sau đó, những người bạn của chàng kiếm được một cô gái duyên dáng, trang điểm cho cô, dẫn cô đến nhà chàng, để cô lại đó và bảo hãy đi vào phòng chàng. Nhưng khi cô gái đi vào phòng, chàng phú thương trẻ không nói năng hay ngó ngàng gì đến cô. Tự ái vì sắc đẹp của mình bị xem thường, cô gái bèn phô bày hết tất cả vẻ duyên dáng của mình và nỉ non những lời tán tỉnh du dương. Rồi cô mỉm cười để khoe hàm răng xinh đẹp của mình. Khi nhìn thấy hàm răng của cô gái, chàng trai nghĩ đến bộ xương, hình ảnh bộ xương ngập đầy tâm trí, cho đến khi toàn thân của cô gái đối với chàng không còn thứ gì khác ngoài một chuỗi các khúc xương liên kết. Thế rồi, chàng đưa cho cô gái tiền và bảo cô về. Nhưng khi cô ra khỏi nhà, một người đàn ông quý phái nhìn thấy cô trên đường đã cho cô tiền để cô về nhà với ông ta.

Bảy ngày trôi qua và lễ hội kết thúc, mẹ cô gái thấy con mình không trở về thì đi đến những người bạn của chàng phú thương trẻ để hỏi cô ở đâu. Những người này lần lượt đến hỏi chàng phú thương trẻ thì được chàng trả lời rằng đã cho cô ta tiền và trả cô ta về ngay khi vừa mới gặp.

Mẹ cô gái khăng khăng đòi trả lại con gái cho bà, và rồi đã đưa chàng trai đến trước nhà vua để nhờ điều tra xét xử. Khi nhà vua chất vấn vấn đề, chàng trai thừa nhận rằng cô gái có đến chỗ chàng, nhưng bây giờ chàng không biết cô ta ở đâu và không thể tìm ra được cô ta. Thế rồi nhà vua nói:

- Nếu người này không tìm được cô gái thì hãy đem nó đi hành quyết.

Thế là ngay lập tức, người ta trói tay chàng lại sau lưng và kéo đi hành quyết. Cả kinh thành xôn xao lên vì tin này. Dân chúng chắp tay trước ngực và đi theo sau chàng than khóc:

- Ông chủ ôi, sao lại như thế này? Sao ông chủ lại chịu bất công như thế này?

Chàng trai suy nghĩ: Tất cả khổ nạn này xảy ra cho ta là bởi ta đang sống đời thế tục. Ta có thể giải bỏ nguy nạn này nều ta xuất gia gia nhập vào Tăng đoàn của Sa-môn Gô-ta-ma - Bậc Toàn Giác.

Bấy giờ, cô gái nghe thấy tiếng náo động thì hỏi thăm sự việc. Nghe kể lại câu chuyện, cô bèn chay nhanh ra ngoài và kêu lớn lên:

- Thưa các vị, xin đứng qua một bên! Xin để cho tôi đi qua! Xin để tôi gặp người của nhà vua!

Rồi cô đến trình diện những người của nhà vua. Ngay khi ấy, những người này đem cô trả lại cho mẹ cô, thả tự do cho chàng trai và ra đi.

Với những người bạn vây quanh, chàng trai con Đại phú thương đi xuống sông tắm. Rồi sau khi quay về nhà, chàng dùng điểm tâm và nói cho cha mẹ biết quyết định xuất gia của mình. Chàng trai mang theo các y và cùng với một đoàn người đông đảo đi đến yết kiến đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và cầu xin xuất gia. Sau khi xuất gia,  chàng trai thọ giới Sa-di rồi đến thọ giới Cụ túc. Chàng lấy đề tài Trói buộc làm đề mục thiền quán cho đến khi chứng được Thiền, rồi không lâu sau đó trở thành một vị A-la-hán.

Một hôm, các Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường và bàn luận về công đức của vị này, nhắc lại sự kiện trong giờ phút nguy nạn, vị này đã nhận thấy được công đức của Giáo pháp, sáng suốt quyết định xuất gia vì mục đích giải thoát, và giờ đây đã chứng được quả vị A-la-hán. Khi các Tỳ-kheo đang bàn luận như vậy thì đức Thế Tôn đi vào. Ngài hỏi chư vị đang bàn luận điều gì. Nghe họ thuật lại vấn đề, Ngài nói rằng: cũng giống như con trai của Đại phú thương, bậc hiền trí vào đời trước, trong giờ phút nguy nạn cũng đã biết suy nghĩ và nhờ vậy được thoát chết. Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con chim cút. Bấy giờ, có một người săn chim cút thường bắt một số lớn chim ở trong rừng và đem về nhà nuôi cho béo. Khi những con chim đã béo, anh ta đem chúng bán và kiếm sống bằng cách ấy. Một hôm, anh ta bắt được Bồ-tát và mang về nhà cùng với rất nhiều những con chim cút khác. Bồ-tát nghĩ: Nếu ta ăn và uống thứ ông ta cho thì ta sẽ bị đem bán. Còn nếu ta không ăn thì ta sẽ trở nên gầy ốm, người ta nhìn thấy như vậy thì không thèm để ý đến ta, và kết quả là ta được an toàn. Ta phải làm như vậy mới được. Vậy là Bồ-tát nhịn ăn miết cho đến khi chỉ còn da bọc xương, người ta thấy vậy nên không một ai bỏ tiền ra mua. Sau khi bán hết số chim, chỉ ngoại trừ Bồ-tát, người săn chim bắt Bồ-tát ra khỏi lòng và đặt trên lòng bàn tay của mình để xem chim có bị bệnh gì không. Canh lúc người săn chim lơ đễnh, Bồ-tát dang cánh và bay vào rừng. Nhìn thấy Bồ-tát quay trở lại, những con chim cút khác hỏi Bồ-tát lâu nay đã ở đâu mà không thấy mặt. Bồ-tát nói với chúng là mình đã bị người săn chim bắt. Được hỏi tại sao lại thoát về được, Bồ-tát trả lời rằng chính nhờ mưu kế do mình nghĩ ra, tức là không dùng thức ăn thức uống mà người săn chim cho. Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ:

Người nào không suy nghĩ

Không có được lợi ích

Xem ta nhờ suy nghĩ

Sống sót, thoát xiềng xích.

Như vậy bằng bài kệ này, Bồ-tát đã nói lên điều mình đã làm.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, ta là con chim cút đã thoát chết.

Chuyện số 119: CHUYỆN CON GÀ GÁY KHÔNG ĐÚNG LÚC (Tiền thân Akālarāvi)

Không cha mẹ uốn nắn

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo gây ồn phi thời.

Chuyện kể rằng, vị này xuất thân từ một gia đình hiền lương ở Xá-vệ, sau đó xuất gia theo Giáo pháp nhưng lại xao lãng với những bổn phận của mình và xem thường những lời chỉ giáo. Thầy không bao giờ nhớ đến thời khoá chấp tác, học tập hay tụng kinh. Suốt cả ba canh trong đêm cũng như những giờ ban ngày, thầy không bao giờ im lặng, khiến cho các Tỳ-kheo khác không thể chớp mắt được. Thế rồi trong Chánh pháp đường, các Tỳ-kheo phê bình về hành vi của vị này. Bước vào Chánh pháp đường và biết được điều chư vị đang bàn luận, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, cũng như bây giờ, vào đời quá khứ Tỳ-kheo này cũng làm ồn phi thời như vậy, và do làm ồn phi thời mà vị này đã bị vặn cổ chết.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Bà-la-nại (Benares), Bồ-tát sanh vào một gia đình Bà-la-môn ở phương Bắc. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát học tập mọi học nghệ và trở thành vị thầy giáo nỗi tiếng thế gian với năm trăm thanh niên Bà-la-môn theo Ngài thọ giáo.

Bấy giờ, những chàng trai Bà-la-môn này có một con gà trống gày đúng giờ, và con gà này đã đánh thức họ dậy học bài. Rồi khi con gà này chết, các chàng trai đi tìm một con gà khác. Một người trong số họ, khi lượm củi tại nghĩa địa đã nhìn thấy một con gà trống ở đó, liền mang nó về nhà và nuôi trong một cái chuồng. Nhưng con gà thứ hai này, vì sinh ra ở nghĩa địa nên nó không biết thời gian nào nên gáy, và do đó thường gáy thất thường: lúc thì gáy vào lúc nửa đêm, lúc thì gáy vào lúc tảng sáng. Nghe tiếng gáy của nó vào lúc nửa đêm, các thanh niên thức dậy học bài. Rồi vào lúc rạng sáng, họ mệt mõi và vì buồn ngủ nên không thể tập trung tư tưởng vào vấn đề được. Rồi vào ban ngày, con gà lại gáy, khiến họ không có thời gian yên tỉnh để đọc bài. Như vậy, do vì tiếng gà gáy vào lúc nửa đêm cũng như ban ngày mà các chàng trai không thể yên tâm học hành được. Do đó, họ đã bắt lấy nó và vặn cổ. Rồi họ thưa lại với thầy của mình là họ đã giết chết con gà gáy phi thời. Để khai sáng cho đệ tử, vị thầy nói:

- Con gà này chết chính vì nó không được nuôi dạy tốt.

Nói vậy xong, ngài đọc lên bài kệ này:

Không cha mẹ uốn nắn

Không thầy giáo dãy dỗ

Nên gà này không biết

Đúng thời và phi thời.

Bồ-tát đã thuyết giảng vấn đề như vậy. Rồi khi sống hết tuổi thọ ở đời, Bồ-tát mạng chung và đi theo hành nghiệp của mình.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, Tỳ-kheo này là con gà không biết gáy đúng lúc, đệ tử của ta là các thanh niên Bà-la-môn, còn ta là thầy giáo của họ.

Chuyện số 120: CHUYỆN GIẢI THOÁT TRÓI BUỘC (Tiền thân Bandhanamokkha)

Trong khi lời kẻ ngu

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về thiếu nữ Bà-la-môn Chiên-xà (Ciñcā). Toàn bộ câu chuyện này sẽ được kể ở Tiền thân Mahāpadma, số 472, tập Mười hai. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu Chiên-xà đã vu khống điều không thật cho ta, mà đời trước cô ta cũng đã từng làm như vậy. Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát sanh vào gia đình một vị tư tế. Rồi sau khi thân phụ qua đời, Bồ-tát thừa kế chức vụ này.

Bấy giờ, nhà vua hứa với hoàng hậu là ông sẽ ban cho bà bất cứ ân huệ gì mà bà yêu cầu. Hoàng hậu nói:

- Thưa hoàng thượng, ân huệ mà thiếp muốn xin hoàn thượng là một thứ rất dễ thực hiện. Đó là từ này trở đi hoàng thượng đừng nhìn một nữ nhân khác với cặp mặt tình ái.

Đầu tiên nhà vua từ chối, nhưng mệt mõi bởi sự nài nỉ liên tục, nên cuối cùng đã miễn cưỡng nhượng bộ. Từ hôm đó trở đi, nhà vua không bao giờ ngắm nhìn một cô gái nào trong số mười sáu ngàn vũ nữ.

Bấy giờ, có một vụ nỗi loạn xảy ra ở vùng biên giới của vương quốc, và sau hai ba lần giao chiến với quân cướp, quân lính đóng ở đấy gửi thư về báo với vua rằng họ không thể dẹp yên được cuộc nổi loạn. Vua muốn đích thân đến đó nên tập họp một đội quân đông đảo, rồi sau đó ông nói với vợ:

-Ái khanh, trẫm sẽ đến vùng biên giới. Ở đấy, những trận chiến sẽ diễn ra ác liệt mà kết thúc thì không biết thắng bại thế nào. Doanh trại thì không phải nơi dành cho phụ nữ, vậy nên ái khanh phải ở lại đây.

Hoàng hậu nói:

- Thưa hoàng thượng, thiếp không thể ở lại đây nếu hoàng thượng ra đi.

Nhưng thấy nhà vua giữ vững quyết định, hoàng hậu đành phải thay đổi lời cầu xin:

- Thưa hoàng thượng, nếu thiếp không cùng đi được thì cứ mỗi dặm đường hoàng thượng hãy cho một người về vấn an thiếp.

Nhà vua hứa sẽ làm như vậy. Rồi để Bồ-tát ở lại kinh thành, vua cùng với đạo quân của mình ra đi, và cứ cuối mỗi dặm đường, ông gửi về một người để báo cho hoàng hầu biết tình hình của mình và cũng để vấn an sức khỏe của bà. Cứ mỗi khi có một người trở về, hoàng hậu thường hỏi vị này trở về làm gì. Khi nhận được câu trả lời là về để vấn an sức khỏe của bà, hoàng hậu liền ra hiệu cho người ấy đến chỗ mình để làm trò bất chính.

Bấy giờ, nhà vua sau khi đi được ba mươi hai dặm đã gửi về ba mươi hai người, và hoàng hậu đã làm điều bất chính với tất cả những người ấy. Rồi khi dẹp xong loạn ở biên giới và đem lại bình yên cho dân chúng, nhà vua lại bắt đầu lên đường về nhà, và trên đường về cũng gửi về ba mươi hai người như vậy. Cũng như trước, hoàng hậu lại làm điều bất chính đối với ba mươi hai người này.

Đống đạo quân chiến thắng gần kinh thành, nhà vua gửi thư cho Bồ-tát, bảo hãy trang hoàng kinh thành để ông vào. Trang hoàng kinh thành xong, Bồ-tát dự định trang trí hoàng cung để cho vua đến nên đã đi đến phòng của hoàng hậu. Nhìn thấy dung mạo tuấn tú của Bồ-tát, hoàng hậu sanh khởi dục ái nên gọi Ngài đến làm điều bất chính với bà. Nhưng Bồ-tát viện cớ kính trọng nhà vua và sợ điều xấu ác nên không làm theo điều bà ta mong muốn. Bà ta nói:

- Sáu mươi bốn tên lính kia không kính trọng, không sợ hãi nhà vua, vậy chẳng lẽ ông sợ nhà vua để rồi không làm theo mong muốn của ta?

Bồ-tát nói:

- Những tên lính ấy nếu họ nghĩ như tôi thì họ đã không làm điều như vậy. Riêng tôi vì biết điều chân chánh nên không làm việc tà ngụy này.

- Đừng nói vô ích, nếu ông trái lời ta, ta sẽ cho chặt đầu ông.

- Thì hãy cứ chặt đầu. Dù đầu tôi có bị chặt ở kiếp này hay trong suốt một trăm ngàn kiếp thì tôi cũng không làm theo lời bà.

- Được, rồi sẽ biết. Bà ta đe dọa.

Rồi trở về phòng mình, bà ta tự cào xước lên người, thoa dầu lên tay chân, mặc áo quần dơ bẩn vào và giả vờ bệnh. Sau đó bà ta cho gọi những nữ tỳ đến và bảo họ rằng, khi nhà vua đến hỏi thăm sức khỏe của bà ta thì nói bà ta bị bệnh.

Trong lúc ấy, Bồ-tát đi đến đón nhà vua. Còn nhà vua, sau khi tuần hành quanh kinh thành trong một đám rước long trọng, đã đi vào hoàng cung. Không nhìn thấy hoàng hậu, vua bèn hỏi bà ta ở đâu và được báo cho biết là bà ta bị bệnh. Nhà vua đi vào phòng ngủ của mình, vuốt ve hoàng hậu và hỏi bà ta bị bệnh gì. Hoàng hậu im lặng. Nhưng khi nhà vua hỏi đến lần thứ ba thì bà ta nhìn ông và nói:

- Mặc dù hoàng thượng vẫn còn sống đó, những nữ nhân đáng thương như thiếp đã có một người chồng riêng.

- Ái khanh muốn nói gì vậy?

- Quan tư tế, người mà hoàng thượng để lại trông coi kinh thành đã đến đây với cớ sửa sang hoàng cung, rồi bởi thiếp không tuân theo ý muốn của ông ta mà ông ta đã đánh thiếp cho hả dạ rồi bỏ đi.

Nghe thế, nhà vua đùng đùng nỗi giận, giống như muối và đường bỏ vào trong lửa. Rồi ông lao ra khỏi phòng, gọi quân hầu đến, bảo họ trói tay quan tư tế lại sau lưng giống như một người tử tội và dẫn Ngài đến pháp trường để chặt đầu. Tuân lệnh, những người này đi nhanh đến bắt lấy Bồ-tát và trói lại. Rồi trống thông báo việc xử trảm được đánh lên.

Bồ-tát suy nghĩ: Không nghi ngờ gì nữa, chính hoàng hậu xấu ác kia đã đầu độc tâm trí nhà vua để ông ấy chống đối ta. Bây giờ ta phải tự giải thoát mình ra khỏi tại họa này. Nghĩ vậy, Ngài nói với những người đang bắt mình:

- Các vị muốn hành quyết tôi thì trước hết hãy mang tôi đến gặp nhà vua.

- Để làm gì? Những người này hỏi.

- Vì tôi là một người hầu cận của vua nên tôi đã làm rất nhiều việc cho vua. Tôi biết nơi chôn cất nhiều tài sản. Nếu không đưa tôi đến gặp vua thì những tài sản này sẽ bị mất hết. Vậy trước tiên hãy đưa tôi đến gặp vua, rồi sau đó các ông cứ thực thi bổn phận của mình.

Nghe vậy, những người này đã đưa Bồ-tát đến gặp vua. Vua hỏi Bồ-tát rằng tại sao không kính trọng ông, và tại sao lại đi làm điều xấu xa như vậy. Bồ-tát trả lời:

- Thưa hoàng thượng, tôi sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn, và tôi không bao giờ sống một đời sống như loài kiến mối. Tôi không bao giờ lấy một thứ gì mà đó không phải là của mình, dù là một cộng cỏ. Tôi không bao giờ ngắm nhìn vợ của người khác bằng cặp mắt dục ái. Tôi không bao giờ nói lời hư ngụy, dù chỉ để đùa giỡn. Và tôi không bao giờ uống rượu, dù chỉ là một giọt. Thưa hoàng thượng, tôi là một kẻ vô tội. Chính hoàng hậu độc ác kia đã nắm lấy tôi một cách suồng sã, và khi bị tôi cự tuyệt, đã đe dọa tôi, nói cho tôi biết việc làm xấu ác bí mật của mình trước khi vào phòng. Có sáu mươi bốn người đã mang thư của hoàng thượng về cho hoàng hậu. Hãy cho gọi những người này đến và hỏi từng người một có phải anh ta từng đã làm theo mệnh lệnh của hoàng hậu hay không.

Thế là nhà vua cho trói sáu mươi bốn người này lại và cho gọi hoàng hậu đến. Rồi khi nghe hoàng hậu thú nhận rằng đã làm điều bất chính với những người này, nhà vua liền ra lệnh chặt đầu tất cả sáu mươi bốn người đó. Nhưng vào lúc đó, Bồ-tát nói:

- Thưa hoàng thương, không nên như vậy. Không thể đổ tội cho những người này được, vì họ chỉ làm theo sự cưỡng ép của hoàng hậu. Vậy hãy tha cho họ. Còn hoàng hậu cũng không có tội, vì ái dục của nữ nhân thì không bao giờ thỏa mãn được, và bà ta chỉ hành động theo bản chất cố hữu của mình mà thôi. Do đó, thưa hoàng thượng, hãy tha cho bà ta.

Lời cầu khẩn này đã khởi dậy lòng nhân từ trong vua. Và nhờ vậy, Bồ-tát đã cứu được mạng sống của hoàng hậu cùng sáu mươi bốn người kia. Rồi Ngài cho một người một chỗ để cư trú. Sau đó Bồ-tát đi đến nhà vua và nói:

Thưa hoàng thượng, chỉ vì một lời buộc tội vô căn cứ của kẻ ngu ngốc mà người hiền trí đã rơi vào chỗ gông cùm không đáng, nhưng những lời của người hiền trí đã giải cứu cho những kẻ ngu ngốc. Như vậy, lời kẻ ngu ngốc thì trói buộc một cách không chính đáng, còn lời của người có trí thì giải thoát mọi trói buộc. Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:

Trong khi lời kẻ ngu

Trói buộc không chính đáng

Còn lời người có trí

Giải thoát sự trói buộc.

Thuyết giảng cho vua bằng bài kệ như vậy xong, Bồ-tát nói:

- Thưa hoàng thượng, vì sống đời thế tục mà tôi vướng phải khổ lụy này. Tôi phải thay đổi đời sống của mình, xin hoàng thượng cho phép tôi được xuất gia.

Khi được nhà vua cho phép, Bồ-tát từ bỏ gia tài đồ sộ cùng với thân bằng quyến thuộc than khóc, xuất gia làm một vị ẩn sĩ. Bồ-tát trú ở Tuyết sơn, và ở đấy đã chứng được Thắng trí cũng Thiền chứng, rồi về sau được sanh lên Phạm thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, thiếu nữ Chiên-xà là hoàng hậu xấu ác, A-nan là nhà vua, còn ta chính là quan tư tế.

Chương I        Chương II       Chương III       Chương IV        Chương V    

Chương VI     Chương VII     Chương VIII     Chương IX        Chương X

Chương XI     Chương XII     Chương XIII     Chương XIV     Chương XV

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Hội PG Thảo Đường


  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp   


    Lịch sinh hoạt Phật sự

        

      Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem chi tiết lịch sinh hoạt  

      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh   


       

      Tôn ảnh Phật ngọc

       

       

         Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

      Đọc tiếp   

       

      Các trang web liên kết