CHUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

Tập 1 - Chương X -  Phẩm ngộ độc

Chuyện số 91: CHUYỆN NGỘ ĐỘC (Tiền thân Litta)

Chất độc bôi lên đó...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc sử dụng vật phẩm không suy nghĩ.

Truyền thuyết kể rằng, bấy giờ phần lớn các Tỳ-kheo có thói quen sử dụng y áo, vật thực... được cúng dường với một thái độ không suy nghĩ cẩn trọng. Và do sử dụng bốn loại vật thực cần thiết không có suy nghĩ như vậy nên họ khó thoát khỏi các cảnh giới địa ngục và ác thú. Biết được điều này, đức Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện thuyết pháp: trình bày sự nguy hại của việc sử dụng vật thực không suy nghĩ, bảo họ phải thận trọng trong việc sử dụng bốn loại vật dụng cần thiết và đặt ra điều luật này:

- Các Tỳ-kheo có suy nghĩ, khi sử dụng y áo, phải quán tưởng là mặc để chống gió lạnh.

Sau khi chế định những điều luật tương tự như vậy đối với những vật thực khác, đức Thế Tôn kết luận:

- Này các Tỳ-kheo, các thầy cần phải suy nghĩ như vậy khi thọ dùng bốn loại vật dụng cần thiết. Sử dụng chúng không suy nghĩ thì cũng giống như uống thuốc độc vậy. Vào thuở trước, có những người vì không suy nghĩ nên đã uống thuốc độc, và chịu khổ đau khóc liệt khi thuốc thấm vào thân.

Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh vào một gia đình giàu có. Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài trở thành một người chơi xúc xắc. Ngài thường chơi xúc xắc với một người thường chơi xúc xắc lừa đảo. Vị này mỗi khi thắng cuộc thì tiếp tục chơi, còn khi vận may thay đổi thì phá bỏ cuộc chơi bằng cách lấy con xúc xắc đút vào trong miệng rồi giả vờ làm mất nó, và sau đó bỏ đi.

- Được rồi, ta sẽ có cách.

Bồ-tát nói khi nhận thấy những gì người này làm.

Thế là Bồ-tát đem một vài con xúc xắc về nhà, bôi thuốc độc lên, đem phơi khô, rồi mang đến kẻ chơi xúc xắc gian xảo kia và thách đấu. Kẻ kia bằng lòng, soạn sẵn bàn xúc xắc và cuộc chơi bắt đầu. Khi thấy mình bắt đầu bị thua, kẻ gian xảo này nhặt nhanh con xúc xắc và đút vào miệng. Nhìn thấy hành động đó, Bồ-tát nói:

- Hãy nuốt đi, một lát nữa thôi anh sẽ thấy nó thật sự là cái gì.

Và Bồ-tát đọc lên bài kệ để khiển trách.

Chất độc bôi lên đó

Nuốt lấy không biết gì

Rồi nó sẽ thiêu đốt

Nuốt lấy, nuốt lấy đi!

Hỡi kẻ chơi gian xảo

Ngươi sẽ bị thiêu hủy.

Trong khi Bồ-tát đang nói như vậy thì chất độc bắt đầu thấm vào máu kẻ chơi gian xảo. Mắt anh bắt đầu ta lăn tròn, người cong xuống vì đau đớn, rồi anh ta ngất xỉu và ngã sụp xuống đất. Bồ-tát nói:

- Ta phải cứu mạng kẻ lọc lừa này.

Vì thế, Bồ-tát trộn một vài lá thuốc với thứ thuốc làm nôn mửa và cho anh ta uống, làm cho anh ta nôn sạch ra. Kế đó, Bồ-tát cho anh ta uống bơ chín cùng với mật và đương.., và bằng cách này ngài đã làm cho anh ta bình phục trở lại. Sau đó ngài khuyên anh ta đừng bao giờ làm điều như vậy nữa. Còn Bồ-tát, sau khi trải qua một đời bố thí và làm các việc thiện, đến khi mạng chung đã sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, sử dụng vật thực không có suy nghĩ cẩn trọng thì cũng giống như uống thuốc độc mà không có suy nghĩ vậy.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, ta chính là người chơi xúc xắc hiền trí.

Chuyện số 92: CHUYỆN ĐẠI BẢO VẬT (Tiền thân Mahāsāra)

Lâm trận cần anh hùng...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Tôn giả A-nan.

Một lần, các cung nữ của vua Câu-tát-la (Kosala) nói như sau:

- Gặp được một vị Phật ra đời là rất khó. Và được sanh làm người có đầy đủ lục căn cũng rất khó. Nay chúng ta được làm người lại sanh vào thời đức Phật, vậy mà chúng ta không thể đi đến tinh xá theo ý muốn để nghe giáo pháp từ kim khẩu của Ngài nói ra, để đảnh lễ và cúng dường lên Ngài. Chúng ta sống ở đây như sống trong một cái hộp. Thế nên chúng ta hãy yêu cầu đức vua mời một Tỳ-kheo đến đây thuyết pháp cho chúng ta. Chúng ta sẽ học hỏi giáo lý từ nơi vị này, và chúng ta sẽ bố thí, làm các việc thiện, để rồi có thể đạt được lợi ích vào chính ngay lúc này.

Vì thế, họ tập họp lại và đi đến nhà vua, thưa với vua những suy nghĩ của mình, và nhà vua đã chấp thuận điều đó.

Bấy giờ, nhà vua muốn đến dạo chơi ở ngự uyển nên sai người làm vườn sửa soạn khu vườn để ông đến. Khi đang dọn dẹp sửa soạn, người làm vườn nhìn thấy đức Thế Tôn đang an tọa dưới một gốc cây. Sau đó vị này đi đến nhà vua và tâu:

- Tâu đại vương, khu vườn đã được dọn sẵn, nhưng đức Thế Tôn đang ngồi nơi một gốc cây.

- Hay lắm, chúng ta hãy đến đó để nghe đức Thế Tôn thuyết pháp.

Rồi ngự lên xe ngựa, nhà vua đi đến ngự uyển để gặp đức Thế Tôn.

Bấy giờ, có một vị cư sĩ tên là Khương-đạt-ba-ni (Chattapāṇi) đang ngồi bên chân đức Thế Tôn để nghe pháp, vị này là một người đã chứng được quả Bất lai. Khi nhìn thấy nam cư sĩ này, nhà vua bỗng lưỡng lự. Nhưng rồi vua lại nghĩ: “Người này chắc hẳn là một người có giới hạnh, nếu không anh ta đã không ngồi nghe đức Thế Tôn thuyết giảng.” Nghĩ thế, nhà vua đi đến gần, đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Bởi vì kính trọng đức Phật Vô thượng, nên nam cư sĩ này không đứng dậy cũng không khấu đầu chào đón nhà vua. Điều này làm cho nhà vua vô cùng tức giận. Nhận thấy thái độ tức giận của vua, đức Thế Tôn đã tán dương công đức của nam cư sĩ này:

- Thưa đại vương, nam cư sĩ này là một người quảng học, thông hiểu thấu đáo những kinh điển đã được truyền trao, là người đã giải thoát các sự trói buộc của dục niệm.

Nhà vua nghe vậy thì nghĩ: “Người được đức Thế Tôn tán thán như vậy thì chắc chắn không phải là một người bình thường.” Và vì thế vua nói với nam cư sĩ này:

- Này nam cư sĩ, nếu anh có cần gì thì hãy nói cho ta biết.

- Thưa vâng, xin cám ơn đại vương. Vị cư sĩ nói.

Rồi nhà vua lắng nghe đức Thế Tôn thuyết giảng. Kết thúc thời pháp, ông đứng dậy và kính cẩn đảnh lễ ra về.

Một hôm khác, sau khi dùng điểm tâm xong, vị nam cư sĩ này cầm dù đi đến tinh xá Kỳ Viên. Nhà vua nhìn thấy ông bèn cho gọi lại và nói:

- Này cư sĩ, ta nghe nói ông là một người quảng học. Giờ đây, các cung nữ của ta mong muốn được nghe và học hỏi giáo pháp. Vậy nếu ông bằng lòng giảng pháp cho họ thì ta lấy làm vui sướng lắm.

- Thưa đại vương,  một nam cư sĩ giảng dạy giáo pháp ở trong cung vua là điều không thích hợp. Việc này chỉ dành riêng cho các Tỳ-kheo.

Đồng tình với ý kiến này, nhà vua đã để cho nam cư sĩ ra đi, sau đó tập họp các cung nữ lại và nói cho họ biết là ông dự định đi đến đức Thế Tôn để xin Ngài cử cho một Tỳ-kheo đến thuyết pháp cho họ. Vậy trong tám vị đại đệ tử, họ muốn chọn ai. Sau khi bàn bạc với nhau, các cũng nữ nhất trí chọn Tôn giả A-nan, người được mệnh danh là bậc Tạng Pháp.

Thế rồi nhà vua đi đến đức Thế Tôn, ân cần chào hỏi và ngồi xuống một bên. Sau đó, vua nói lại mong muốn của các cung nữ, và ông ước mong Tôn giả A-nan sẽ làm thầy giảng pháp cho họ. Đức Thế Tôn bằng lòng cho Tôn giả A-nan đi. Từ đó, các cung nữ của vua thường nghe pháp và học pháp ở nơi Tôn giả A-nan.

Một hôm, một viên ngọc gắn ở trên chiếc khăn đầu của vua bị mất. Khi nghe tin đó, nhà vua cho gọi các đại thần đến và bảo họ bắt tất cả mọi người ở trong nội cung lại để tìm cho ra viên ngọc. Từ nữ nhân cho đến nam giới, các đại thần lục soát tất cả để tìm kiếm viên ngọc bị mất. Họ làm cho mọi người lo sợ, nhưng vẫn không thể tìm ra dấu vết viên ngọc.

Ngày hôm đó, khi đi đến hoàng cung, nhìn thấy các cung nữ của vua sầu ưu, không còn hoan hỉ như trước đây mỗi khi họ nghe mình giảng pháp, Tôn giả A-nan hỏi:

- Hôm nay có điều gì làm cho quý vị ưu sầu vậy?

Các cung nữ nói:

- Thưa Tôn giả, nhà vua đánh mất một viên bảo ngọc đính trên khăn đội đầu, và ông ra lệnh cho các triều thần lục soát từ nữ nhân cho đến tất cả để tìm kiếm viên ngọc. Điều này làm cho mọi người lo sợ mất mạng. Chúng tôi không biết được điều gì sẽ xảy ra cho chúng tôi nên mới ưu sầu như vậy.

- Đừng lo nghĩ về điều đó nữa. Tôn giả an ủi họ.

Rồi Tôn giả đi đến nhà vua. Sau khi ngồi lên ghế được dành sẵn, Tôn giả hỏi vua rằng có phải ông bị mất một viên ngọc không. Nhà vua đáp:

- Đúng như vậy, thưa Tôn giả.

- Và không thể tìm ra?

- Trẫm đã làm cho mọi người trong cung lo sợ, nhưng vẫn chưa tìm ra được viên ngọc.

- Thưa hoàng thượng, có một cách tìm ra viên ngọc mà không làm cho mọi người lo sợ.

- Thưa Tôn giả, cách gì vậy?

- Thưa đại vương, hãy đưa một nắm rơm.

- Đưa nắm rơm, để làm gì vậy?

- Thưa đại vương, hãy tập trung những người mà ngài nghi ngờ lại và đưa cho mỗi người một nắm rơm hoặc một cục đất sét, bảo họ rằng: “Hãy cầm lấy vật này và sáng sớm ngày mai đặt nó vào chỗ kia”. Người lấy cắp sẽ đặt viên ngọc giữa nắm rơm hoặc cục đất sét, và như vậy viên ngọc sẽ được mang trả lại. Nếu viên ngọc được mang trả lại vào ngày đầu tiên thì tốt. Còn nếu không, phải làm tương tự như vậy vào ngày thứ hai và thứ ba. Bằng cách này, rất nhiều người được thoát khỏi lo sợ, và ngài sẽ tìm được viên ngọc trở lại.

Nói vậy xong, Tôn giả ra về.

Làm theo lời khuyên này, nhà vua đưa nắm rơm và cục đất sét cho những người đáng nghi ngờ, nhưng ba ngày trôi qua vẫn không tìm lại được viên ngọc. Vào ngày thứ ba, Tôn giả trở lại và hỏi vua viên ngọc đã được mang trả lại hay chưa. Nhà vua trả lời chưa. Tôn giả nói:

- Thưa đại vương, vậy ngài hãy cho đặt một chậu nước lớn tại một góc sân khuất, rồi cho đổ đầy nước vào chậu và giăng một cái màn trước chậu nước đó. Sau đó ra lệnh cho những người thường ra vào nội cung, đàn ông cũng như đàn bà, phải cởi áo ngoài ra, và từng người một đi vào rửa tay phía sau bức màn đó rồi trở ra.

Khuyên nhà vua như vậy xong, Tôn giả ra về. Và nhà vua đã làm theo những gì Tôn giả bảo.

Bấy giờ, tên trộm suy nghĩ: “A-nan đã nắm rõ sự việc hệ trọng này, sẽ không chịu thua nếu không tìm ra viên ngọc. Bây giờ là lúc phải đem viên ngọc trả lại, không được chần chừ nữa.” Vì thế anh ta giấu kín viên ngọc trong người và đi ra sau bức màn, đặt viên ngọc vào trong nước rồi đi ra. Khi mọi người đi hết rồi, người ta đổ hết nước trong chậu và tìm thấy viên ngọc. Nhà vua vui sướng nói:

- Nhờ Tôn giả A-nan, ta tìm lại được viên ngọc mà không làm cho mọi người phải lo sợ mất mạng.

Và tất cả những người ở trong nội cung đều biết ơn Tôn giả A-nan vì thầy đã cứu họ thoát khỏi tình trạng bất an. Câu chuyện về viên ngọc được tìm thấy nhờ năng lực tuyệt vời của A-nan đã lan truyền khắp kinh thành và cuối cùng đến tai Tăng chúng. Các Tỳ-kheo nói:

- Thưa các pháp hữu, nhờ sáng suốt, quảng học và đại trí, Tôn giả A-nan đã phương tiện tìm lại được viên ngọc bị đánh mất và giúp nhiều người thoát khỏi nỗi lo sợ mất mạng.

Khi họ tập trung lại trong Chánh pháp đường và tán thán Tôn giả A-nan như vậy, đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận về điều gì. Khi được nghe kể lại sự việc, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên những gì bị mất đã được tìm ra, và cũng không phải A-nan là người duy nhất đã tìm ra của báu bị mất ấy. Đời trước, những bậc hiền trí cũng đã tìm ra được những gì đã bị cướp mất khi tài sản bị mất ấy rơi vào tay của loài thú vật, và cũng đã từng cứu giúp nhiều người thoát khỏi khổ đau.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát sau khi hoàn tất việc học, đã trở thành vị đại thần của vua này.

Một hôm, nhà vua cùng với một đoàn tùy tùng đông đảo đi đến ngự uyển. Ở đấy, sau khi đi dạo khắp vườn, nhà vua muốn vui chơi ở trong nước. Ông đi vào hồ nước dành riêng cho mình và bảo các cung nữ tháo vàng ngọc nơi đầu và cổ của mình ra, đem cất chúng vào trong những cái hộp cùng với những chiếc áo ngoài, giao nó cho các tỳ nữ giữ và đi vào nước tắm. Bấy giờ, khi hoàng hậu tháo những viên ngọc ra và đem cất chúng trong một cái hộp cùng với chiếc áo ngoài thì một con khỉ cái núp trong những cành cây gần đó đã nhìn thấy bà. Con khỉ này muốn đeo dây chuyền đeo cổ của hoàng hậu nên ngồi canh chừng người tỳ nữ, đợi cô này sơ ý là nhảy xuống lấy. Ban đầu, người tỳ nữ quan sát xung quanh để canh giữ ngọc báu. Nhưng một lúc sau, cô gái bắt đầu ngủ gục. Nhìn thấy vậy, nhanh như một cơn gió, con khỉ nhảy xuống chụp lấy chuỗi ngọc, và cũng nhanh như cơn gió nó nhảy lên lại cây cùng với chuỗi ngọc đeo quanh cổ. Thế rồi sợ những con khỉ khác nhìn thấy chuỗi ngọc, con khỉ này đem giấu chuỗi ngọc vào trong một hốc cây và ngồi canh giữ với một thái độ bình tĩnh như không có chuyên gì xảy ra. Khi thức dậy, nhận thấy chuỗi ngọc không còn nữa, người nữ từ sợ hãi không biết phải làm gì ngoài kêu lên:

- Một người đàn ông đã đã lấy cắp chuỗi ngọc của hoàng hậu và bỏ chạy.

Những người canh gác từ các hướng chạy đến, nghe câu chuyện và tâu lên nhà vua. Nhà vua ra lệnh:

- Hãy bắt lấy tên trộm.

Những người canh gác chạy ra khỏi ngự uyển, lùng sục khắp nơi để bắt tên trộm. Nghe tiếng ồn ào, một người dân quê nghèo khổ đang lễ bái đã hốt hoảng tháo chạy. Những người canh gác cho đó là tên trộm nên đuổi theo anh ta. Họ bắt lấy anh ta, đánh đập và mỉa mai rằng anh ta ăn cắp chuỗi ngọc quý giá như vậy để làm gì.

Người này nghĩ: “Nếu ta từ chối không lấy, những gã côn đồ này sẽ đánh chết ta. Vậy tốt hơn là ta nhận có lấy.” Thế là anh ta thừa nhận đã lấy trộm chuỗi ngọc, và như vậy anh ta bị trói đưa đến nhà vua. Nhà vua hỏi:

- Có phải ngươi lấy cắp chuỗi ngọc quý hay không?

- Đúng vậy, tâu đại vương.

- Chuỗi ngọc bây giờ ở đâu?

- Thưa đại vương, tôi là một kẻ nghèo hèn. Đời tôi không bao giờ làm chủ được một cái gì có giá trị, dù chiếc giường hay cái ghế, chứ đừng nói đến viên ngọc. Chính vị Trưởng giả đã bảo tôi lấy chuỗi ngọc đeo cổ có giá trị đó. Tôi đã lấy nó và giao cho ông ta rồi. Ông ta là người biết chuỗi ngọc đó.

Thế là nhà vua cho gọi vị Trưởng giả đến và hỏi:

- Có phải người dân quê đã chuyển chuỗi ngọc đeo cổ cho ông không.

- Đúng thế, thưa đại vương. Ông trả lời.

- Ông để nó ở đâu?

- Tôi đã đưa nó cho vị Tư tế của đại vương

Thế là vị Tư tế được gọi đến và được hỏi cùng cách như vậy. Rồi vị Tư tế nói là đã đưa nó cho vị nhạc trưởng. Vị nhạc trưởng nói đã làm quà tặng cho một người kỹ nữ. Nhưng người kỹ nữ khi được đưa đến nhà vua, đã nói rằng chưa hề nhận nó.

Trong khi năm người này đang được chất vấn như vậy thì hoàng hôn buông xuống. Vì thế nhà vua nói:

- Hôm nay quá muộn rồi. Ngày mai chúng ta sẽ tiếp tục điều tra việc này.

Rồi nhà vua trao năm người này cho các đại thần và đi vào thành. Lúc ấy, Bồ-tát suy nghĩ: “Chuỗi ngọc này bị mất ở trong ngự viên, trong khi người dân quê này thì ở bên ngoài. Cửa thì lại được canh gác chặt chẽ. Một người bên ngoài đột nhập vào lấy chuỗi ngọc đeo cổ là điều không thể. Và người ở trong ngự viên cũng không thể lấy cắp và chạy ra ngoài được. Người nghèo khổ này nói đã đưa nó cho vị Trưởng giả chỉ là để cứu lấy mạng mình thôi. Còn vị trưởng giả nói đưa cho vị Tư tế là hy vọng rằng mình sẽ thoát khỏi tội nếu đưa vị Tư tế vào cuộc. Rồi vị Tư tế nói đưa cho vị nhạc trưởng vì ông này nghĩ rằng vị nhạc trưởng sẽ đem lại cho ông những tháng ngày vui vẻ khi ở trong tù. Trong khi vị nhạc trưởng nói đưa cho cô kỹ nữ, đơn giản vì muốn sống chung với cô này lúc ngồi tù. Không ai trong năm người này lấy trộm cả. Khu vườn này có rất nhiều khỉ, và chuỗi ngọc đeo cổ chắc chắn đã rơi vào tay một trong các con khỉ cái.”

Khi kết luận như vậy, Bồ-tát đi đến nhà vua và cầu xin nhà vua hãy giao những nghi phạm đó cho ngài, rằng ngài sẽ điều tra ai là kẻ gây ra việc này. Nhà vua đồng ý, bảo bậc hiền trí bằng mọi cách phải điều tra cho ra vụ việc,

Thế rồi, Bồ-tát cho gọi các người hầu đến và bảo họ để năm người này ở chung một chỗ. Ngài nói:

- Hãy canh giữ những người này chặt chẽ, lắng nghe những gì họ nói và tường thuật lại cho ta biết.

Những người hầu làm theo lời chỉ bảo. Khi năm người này ngồi lại với nhau, vị Trưởng giả nói với người dân quê:

- Này gã khốn nạn kia, nói cho ta biết, trước đây ngươi có bao giờ gặp ta không mà nói đã đưa chuỗi ngọc đeo cổ cho ta?

Người này nói:

- Thưa Trưởng giả, đời tôi chưa bao giờ được làm chủ được một vật gì có giá trị, dù đó là chiếc giường hay cái ghế có chân bằng lõi cây. Vì nghĩ rằng ngài sẽ giúp tôi thoát khỏi tai họa này nên tôi mới nói như vậy. Thưa Trưởng giả, xin ngài đừng giận tôi.

Đến lượt vị Tế sư nói với Trưởng giả:

- Thưa Trưởng giả, vậy làm sao ngài có thể đưa cho tôi thứ mà kẻ kia không đưa cho ngài?

- Tôi nói như vậy chỉ vì nghĩ rằng, nếu ngài và tôi, hai vị quan lại cao cấp của triều đình cùng đứng chung với nhau thì chúng ta có thể giải quyết vấn đề này một cách nhanh chống.

Bấy giờ vị nhạc truởng nói với vị Tế sư:

- Thưa Bà-la-môn, ngài đã đưa chuỗi ngọc cho tôi lúc nào?

Tư tế trả lời:

- Tôi nói như vậy chỉ vì nghĩ rằng ngài sẽ giúp tôi có được niềm vui trong thời gian ngồi tù.

Cuối cùng người kỹ nữ hỏi:

- Ôi, thưa ngài nhạc trưởng, ngài biết là ngài chưa bao giờ viếng thăm tôi và tôi cũng chưa bao giờ đến với ngài. Vậy thì ngài cho tôi chuỗi ngọc đeo cổ khi nào mà ngài nói đã cho?

Nhạc trưởng nói:

- Nàng ạ, xin đừng có giận tôi. Năm chúng ta buộc phải sống chung với nhau một nhà trong chốc lát thôi. Vậy chúng ta hãy vui vẻ với nhau đi.

Cuộc đối thoại của những người này được các người theo dõi báo lại cho Bồ-tát. Bồ-tát tin chắc rằng năm người này hoàn toàn không lấy cắp, mà chính con khỉ cái đã lấy chuỗi ngọc đeo cổ. Vì thế ngài nói:

- Ta phải tìm cách bắt con khỉ đó thả xâu chuỗi xuống.

Vì thế, ngài cho làm một số xâu chuỗi hạt đeo cổ, rồi cho bắt những con khỉ lại, đeo những chuỗi hạt vào cổ, vào tứ chi của nó và thả nó ra. Trong lúc ấy, con khỉ cái lấy cắp vẫn ngồi ở trên cây canh giữ chuỗi ngọc. Thế rồi, Bồ-tát ra lệnh cho một số người cẩn thận quán sát lũ khỉ trong vườn, đến khi nào nhìn thầy con khỉ đeo chuỗi ngọc bị mất cắp thì dọa nạt làm cho nó thả chuỗi ngọc xuống.

Trang điểm đồ trang sức mới vào, những con khỉ cái kia vênh váo leo nhảy khắp nơi, cho đến khi đi đến chỗ con khỉ ăn cắp. Trước con khỉ đó, chúng khoe khoang đồ trang sức của chúng. Con khỉ này bị lòng ganh tị làm cho mất khôn, đã nói:

- Đáng gì những chuổi hạt đó!

Và nó đeo vào cổ xâu chuỗi ngọc. Ngay khi nhìn thầy điều này, những người theo dõi đã nhanh chống làm cho con khỉ thả xâu chuỗi đeo cổ xuống, và rồi nhặt lấy nó mang đến cho Bồ-tát. Bồ-tát đem chuỗi ngọc trao cho nhà vua và nói:

- Thưa đại vương, đây là xâu chuỗi ngọc. Năm tù nhân kia là những người vô tội. Chính con khỉ cái ở trong ngự viên đã lấy cắp nó.

- Vậy bằng cách nào khanh khám pha ra được vấn đề? Và bằng cách nào khanh lấy lại được chuỗi ngọc?

Bồ-tát kể lại cho nhà vua toàn bộ câu chuyện. Nhà vua cám ơn Bồ-tát và nói:

- Khanh thật xứng đáng với chức vụ của mình.

Và vua đọc lên bài kệ này để tán thán Bồ-tát:

Lâm trận cần anh hùng

Khuyên răn cần điềm tỉnh

Vui chơi cần bạn bè

Gặp việc cần hiền nhân.

Tán thán và tri ân Bồ-tát bằng nhưng lời như trên xong, giống như một trận mưa báu từ trên trời rơi xuống, vua ban cho ngài nhiều báu vật. Rồi vâng theo lời khuyên của Bồ-tát, vua trọn đời làm việc bố thí và thực hành việc thiện, đến khi mạng chung đã sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại, sau khi tán dương công đức của Tôn giả A-nan, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, còn ta chính là vị đại thần hiền trí.

Chuyện số 93: CHUYỆN TRÚNG ĐỘC DO THAM LUYẾN (Tiền thân Vissāsabhojana)

Chớ tin vào người thân...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc thọ nhận vật thực nhờ vào người thân.

Tương truyền, bấy giờ phần nhiều các Tỳ-kheo thường bằng lòng với những vật thực do cha mẹ, anh chị em, hay bà con thân hữu cúng dường. Viện cớ rằng khi còn là cư sĩ, họ đã từng nhận những nguồn vật dụng như thức ăn, y áo... từ tay thân hữu của mình thì khi làm Tỳ-kheo họ không cần phải suy nghĩ quán tưởng trước khi thọ dụng những vật dụng này. Nhận biết được việc đó, đức Thế Tôn nghĩ cần phải khuyên dạy họ. Vì thế cho tập họp các Tỳ-kheo lai, Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, bất luận người cho là bà con thân tộc hay không phải bà con thân tộc, các Tỳ-kheo phải suy nghĩ quán tưởng trước khi thọ dụng đồ vật. Tỳ-kheo không suy nghĩ quán tưởng khi thọ dụng đồ vật được cúng dường thì sẽ bị sanh làm dạ xoa hoặc ngạ quỷ. Thọ dụng mà không suy nghĩ quán tưởng thì giống như uống thuốc độc. Thuốc độc dù bà con thân hũu cho hay người dưng cho thì nó vẫn giết chết người như nhau. Thuở xưa, có những người đã uống thuốc độc do người thân cận cho và vì thế đã phải mất mạng.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn đã kể câu chuyện quá khứ sau.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm dự (Brahadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát là một vị Trưởng giả rất giàu có, và ngài có một người chăn bò. Khi mùa vụ bắt đầu thu hoạch, người chăn bò lùa bầy bò vào rừng và giữ chúng ở đấy trong một cái chuồng, rồi thỉnh thoảng mang sữa bò về cho vị Trưởng giả. Bấy giờ, gần cái chuồng bò trong rừng ấy, có một con sư tử sinh sống. Bầy bò vì sợ con sư tử ấy nên cho sữa ngày càng ít đi. Vì thế một hôm, khi người chăn bò đem sữa về, vị Trưởng giả bèn hỏi nguyên nhân tại sao sữa lại ít đi như thế. Người chăn bò kể lại nguyên nhân sự việc. Bồ-tát nói:

- Này anh, con sư tử có yêu thích con vật nào không?

- Thưa ông chủ, nó yêu thích một con nai cái.

- Anh có thể bắt con nai cái đó không?

- Được, thưa ông chủ.

- Vậy hãy bắt lấy con nai cái đó, rồi bôi thuốc độc và đường lên mình nó và đem phơi cho khô. Giữ con nai cái này một hoặc hai ngày và sau đó thả nó ra. Bởi vì yêu thích con nai cái, con sư tử sẽ dùng lưỡi liếm mình con nai này và sẽ bị giết chết. Sau đó lấy da, mống, răng và mở của nó mang về cho ta.

Nói vậy xong, Bồ-tát đưa thuốc độc cho người chăn bò và bảo anh ta đi. Người chăn bò đặt lưới, bắt được con nai và làm theo những gì Bồ-tát đã dặn.

Rồi khi nhìn thấy con nai đến gần, con sư tử vì quá yêu thích con vật này nên đã dùng lưỡi liếm mình nó và vì thế đã bị mất mạng. Người chăn bò mang da cùng những thứ khác về cho Bồ-tát. Bồ-tát nói:

- Không nên tham luyến kẻ khác. Hãy nhìn con sư tử, nó là vua của loài thú, có đầy đủ sức mạnh, nhưng vì yêu thương con nai cái, liếm lấy mình con nai này để rồi trúng phải thuốc độc và đưa đến vong mạng

Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này để thuyết giáo cho những người đang đứng xung quanh:

Chớ tin vào người thân

Chớ tin người không thân

Vội tin sẽ bỏ mạng

Như sư tử liếm nai.

Bằng bài kệ như vậy, Bồ-tát đã khuyên dạy những người xung quanh. Rồi sau một đời bố thí và làm việc thiện, ngài mạng chung và đi theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, ta chính là vị Trưởng giả.

Chuyện số 94: CHUYỆN NỖI SỢ HÃI (Tiền thân Lomahamsa)

Giờ nóng bức, lạnh buốt...

Trong khi trú tại vườn Ba-lợi-da (Pāṭkārāma) gần thành Tỳ-xá-li (Vesāli), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Thiện Tinh (Sunakkhatta, Tô-na-già-đà).

Một thời, Thiện Tinh, thị giả của đức Thế Tôn, vì yêu thích giáo pháp của Sát-đế-lợi Ca-la (Kora Kshatriya), đã mang lấy y bát du hành khắp nơi. Và do quan hệ với Sát-đế-lợi Ca-la, ông đem y bát trả lại cho đức Thế Tôn và trở về đời sống thế tục. Trong khi đó, Sát-đế-lợi Ca-la tái sanh làm thần A-tu-la Kālakañjaka. Rồi Thiện Tinh đi khắp ba vòng thành của Vệ-xá-li để chỉ trích đức Thế Tôn:

- Sa-môn Gô-ta-ma không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng của bậc thánh. Sa-môn Gô-ta-ma dựng nên một hệ thống giáo điều mà nó là kết qủa của việc suy luận và chứng nghiệm cá nhân. Rồi theo sự lý giải của riêng mình, Sa-môn đã tuyên thuyết một nguồn giáo pháp mà nó không đưa đến đoạn trừ khổ đau cho những người đi theo nó.

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất đang đi khất thực thì nghe được những lời chỉ trích của Thiên Tinh. Khi khất thực trở về, Tôn giả bạch điều đó lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói:

- Này Xá-lợi-phất, là một con người phẫn hận vô trí, Thiện Tinh đã nói những lời vô nghĩa. Sự phẫn hận vô trí của ông ta đã khiến ông ta nói những lời vô nghĩa như vậy, để phủ nhận khả năng cứu độ của giáo pháp ta. Nhưng không ngờ rằng, chính nói như vậy là ông ta đang tán dương ta. Ta nói không ngờ, vì ông ta không biết những công đức của ta. Này Xá-lợi-phất, ở ta có đầy đủ Lục thông, đây là pháp thượng nhân của ta. Ta có Thập lực, Tứ vô sở uý. Ta biết bốn sanh hữu, biết năm sanh thú. Đây là pháp thượng nhân của ta. “Sa-môn Gô-ta-ma không có pháp thượng nhân”, những ai không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ quan kiến ấy, sẽ bị rơi vào địa ngục.

Sau khi nói nói rõ những pháp thượng nhân mà mình có, đức Thế Tôn nói tiếp:

- Này Xá-lợi-phất, ta nghe Thiện Tinh ưa thích những pháp khổ hạnh sai lạc khó hành trì của Sát-đế-lợi Ca-la, và do đó ông ta không quy kính đạo của ta. Chín mươi mốt kiếp trước đây, ta đã tu tập đời sống phạm hạnh với đầy đủ bốn phần, để kiểm định, khám phá xem tà khổ hạnh ấy có thật là chân lý hay không. Là một người khổ hạnh, ta là nhà khổ hạnh bậc nhất. Là người hành trì thô thực, ta vượt qua những người khác. Là người tu hạnh yểm li, ta vượt qua tất cả người khác. Là người sống đời viễn li, ta sống viễn li không ai vượt qua được.

Rồi theo lời thỉnh cầu của Tôn giả Xá-lợi-phất, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, chín mươi mốt kiếp trước đây, muốn tự mình kiểm định pháp tu khổ hạnh tà đạo, Bồ-tát đã xuất gia làm một vị ngoại đạo theo phái lõa thể, không áo không quần và toàn thân đầy bụi, sống viễn li đơn độc, bỏ chạy như một con nai mỗi khi nhìn thấy người. Thức ăn của ngài là những con cá nhỏ, phân bò và những thứ đại loại như vậy. Để giữ tâm không phóng dật, Bồ-tát sống trong một bụi cây đáng sợ ở trong rừng. Vào ban đêm mùa đông tuyết rơi, Bồ-tát đi ra khỏi bụi cây để sống ở ngoài trời, rồi khi mặt trời lên thì quay vào lại lùm cây. Và như thế, vào ban đêm Bồ-tát ướt đẫm vì sương tuyết, rồi ban ngày cũng lại bị ướt bởi những giọt nước ở nơi cành nhánh lùm cây kia. Thế nên ngày cũng như đêm, Bồ-tát phải chịu đựng khổ đau khốc liệt vì lạnh. Đến mùa hè, ban ngày ngài sống ở ngoài trời, còn ban đêm thì sống ở trong rừng cây. Như vậy, ban ngày Bồ-tát bị thiêu đốt bởi ánh nắng mặt trời, còn ban đêm lại chịu nống nực bởi vì trong rừng cây không có gió. Thế nên ngày cũng như đêm, mồ hôi luôn ướt đẫm toàn thân. Và trong tâm ngài đã khởi lên bài kệ mà trước đây chưa bao giờ được đọc lên:

Giờ nóng bức, lạnh buốt

Một mình giữa rừng sâu

Bên mình không có lửa

Nhưng thiêu đốt bên trong

Trần truồng, vị ẩn sĩ

Gian khổ tìm chân lý

Nhưng sau một đời thực hành pháp tu khổ hạnh này, cảnh địa ngục vẫn hiện lên trước mắt khi Bồ-tát sắp mạng chung. Vì thế, ngài nhận biết rằng pháp tu khổ hạnh này không đem lại giá trị hữu ích. Rồi chính lúc ấy, Bồ-tát phá bỏ quan kiến sai lạc trước đây của mình, nắm lấy chánh tri kiến và nhờ đó được sanh lên Thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, ta chính là vị ngoại đạo lõa thể.

Chuyện số 95: CHUYỆN VUA ĐẠI THIỆN KIẾN (Tiền thân Mahāsudassana)

Các hành vốn vô thường…

Đang lúc sắp nhập Niết-bàn, Đức Thế Tôn kể câu chuyện này về lời nói của Tôn giả A-nan: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn chớ nhập Niết-bàn ở thành phố nhỏ bé buồn tẻ này.”

Khi đang trú tại Kỳ Viện, đức Thế Tôn nghĩ: “Trưởng lão Xá-lợi-phất, người sanh ở làng Nāla đã nhập Niết-bàn tại Varaka vào tháng Kattika, nhằm kỳ trăng tròn. Còn Đại Mục-kiền-liên đã nhập Niết-bàn vào tháng Kattika, nhằm kỳ tối trăng. Hại thượng thủ đệ tử của ta đã nhập Niết-bàn. Tại Kusināra, nay ta cũng sẽ nhập Niết-bàn.” Nghĩ như vậy, đức Thế Tôn đi đến Kusinārā để khất thực. Tại đó, giữa hai cây Sa-la, đức Thế Tôn nằm lên sàng tọa, đầu hướng về phía Bắc và không bao giờ dậy nữa. Lúc ấy, Tôn giả A-nan nói:

- Bạch Thế Tôn, Xin Thế Tôn chớ nhập Niết-bàn tại thành phố bé nhỏ buồn tẻ, hoang vắng và nằm ở ngoại ô này. Thế Tôn không thể nhập diệt tại thành Vương-xá hay một thành phố lớn nào đó sao?

Đức Thế Tôn nói:

- Này A-nan, không thể gọi đây là thành phố nhỏ buồn tẻ, hoang vắng và nằm ở ngoại ô được. Thuở trước, vào đời vua Chuyển luân Thiện Kiến (Sudassana), ta đã sống tại chính thành phố này. Bấy giờ, nó là một thành phố rất lớn, được bao quanh bằng những bức tường châu báu dài mươi hai dặm.

Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của Tôn giả A-nan, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này và đọc lên kinh Đại Thiện Kiến (Mahā-Sudassana Sutta).

* * *

Bấy giờ, hoàng hậu Thiện Tướng (Subhaddā) nhìn thấy vua Thiện Kiến, sau khi rời lâu đài Chánh pháp, đã đi đến rừng cây Sa-la được làm bằng châu báu ở gần đó và nằm nghiêng mình về bên phải trên sàng tọa được soạn sẵn cho mình, và nằm như thế không bao giờ dậy nữa. Hoàng hậu nói:

- Thưa hoàng thượng, trong tám mươi bốn ngàn thành phố thuộc quyền cai trị của hoàng thượng, Kusāvatī là kinh đô đứng đầu. Hoàng thượng hãy hướng tâm đến chúng.

- Hoàng hậu, đừng nói như vậy. Tốt hơn hoàng hậu hãy khuyến khích ta: hãy hướng tâm đến thành phố này, và đừng hướng tâm đến những thành phố khác.

- Thưa hoàng thượng, tại sao vậy?

- Bởi vì ngày hôm nay ta sẽ băng hà. Vua đáp.

Nghe thế, hoàng hậu bi sầu rơi lệ. Rồi bà gạt nước mắt, gắng gượng nấc lên những lời mà nhà vua bảo bà nói. Sau đó bà lại khóc than. Tám mươi bốn ngàn cung nữ khác cùng than khóc thảm thiết. Các đại thần cũng không thể chịu đựng nỗi, tất cả đồng thống thiết khóc than. Bồ-tát nói:

- Hãy giữ yên tĩnh!

Nghe Bồ-tát nói, những người kia không còn than khóc nữa. Sau đó, hướng mặt về hoàng hậu, vua nói:

- Hoàng hậu, xin đừng than khóc. Bởi vì, nhỏ đến như hạt me, không có một pháp nào là thường hằng cả. Tất cả là vô thường, phải chịu sự biến hoại.

Và rồi để khuyến giáo hoàng hậu, ngài đọc lên bài kệ này:

Các hành vốn vô thường

Là các pháp sanh diệt

Sanh ra rồi lại diệt

Hết sanh diệt: an lạc.

Như vậy, vua Đại Thiện Kiến đã y vào Niết-bàn vô sanh bất diệt để thuyết pháp. Rồi ngài khuyến khích đại chúng hãy bố thí, giữ giới và hành trì ngày trai tịnh. Sau đó ngài qua đời và sanh về Thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Da-du-đà-la là Thiện Tướng; La-hầu-la là con trai của vua Thiện Kiến; còn ta chính là vua Đại Thiện Kiến.

Chuyện số 96: CHUYỆN BÁT DẦU ĐẦY (Tiền thân Telapatta)

Như người mang bát dầu…

Câu chuyện này, trong khi trú tại một khu rừng gần thị trấn Đức-đạt-ca (Desaka) ở nước Tang-ba (Sumbha), đức Thế Tôn nói về Kinh Janapada Kalyāṇi (Mỹ nhân của vương quốc). Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, giả sử có một đại chúng đông đảo tập trung lại và hô lớn lên rằng: “Hoan hô mỹ nhân của vương quốc! Hoan hô mỹ nhân của vương quốc!” Và giả sử cùng cách như vậy, một đại chúng đông hơn tập họp lại và hô lên rằng: “Hoan hô mỹ nhân của vương quốc đang ca hát và nhảy múa!” Sau đó, giả sử có một người ham sống sợ chết, thích vui sợ khổ đi đến, và giả sử người này được bảo như sau: “Này anh, anh hãy mang bát dầu đầy ắp này, đi vào chỗ mỹ nhân của vương quốc và đám người đông đúc ấy. Có một người sẽ cầm một cây gươm và đi theo chân anh. Nếu anh làm đổ một giọt dầu nào, người ấy sẽ chặt đứt đầu của anh”. Này các Tỳ-kheo, các thầy nghĩ thế nào? Người đàn ông đó trong trường hợp này có dám lơ đễnh thất niệm, có dám không chú ý khi mang bát dầu đi không?

- Thưa không, Bạch Thế Tôn.

- Này các Tỳ-kheo, đây là ví dụ mà ta đưa ra để làm sáng tỏ ý nghĩa vấn đề: bát dầu đầy tượng trưng cho chánh niệm về thân (thân hành niệm), và bài học cần phải học là chánh niệm này cần được tu tập và làm cho viên mãn.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn thuyết kinh Janapada Kalyāṇi. Sau khi thuyết xong kinh này, đức Thế Tôn nói tiếp:

- Một Tỳ-kheo muốn tu tập thân hành niệm thì phải nên cẩn trọng không được để mất chánh niệm, giống như người đàn ông ở trong ví dụ trên không để rơi một giọt dầu nào.

Sau khi nghe bài kinh và hiểu ra ý nghĩa của nó, các Tỳ-kheo nói:

- Bạch Thế Tôn, bưng bát dầu đi mà không nhìn mỹ nhân vương quốc thì thật là việc làm khó đối với mọi người.

- Này các Tỳ-kheo, không có gì khó cả, việc làm ấy hoàn toàn dễ. Dễ bởi vì người đó được người khác đi theo cầm gươm đe dọa. Việc làm thật sự khó là các bậc hiền trí thuở trước, đã giữ được chánh niệm, kiềm chế các dục để không nhìn tiên nữ có vẻ đẹp hoàn mỹ. Giữ gìn như thế cho đến khi chiến thắng và giành được vương quốc.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát là hoàng tử trẻ nhất trong số một trăm người con trai của vua, và rồi Bồ-tát khôn lờn. Bấy giờ, các đức Phật Bích Chi thường đến thọ trai tại hoàng cung và Bồ-tát là người hầu hạ những vị này. Nghĩ rằng mình có nhiều anh trai và phân vân không biết mình có thể kế thừa được vương vị của phụ vương ở kinh thành này hay không, nên một hôm Bồ-tát quyết định thỉnh cầu chư Phật Bích Chi hãy nói cho mình biết điều gì sẽ xảy ra về sau. Ngày hôm sau, khi chư Phật Bích Chi đến, Bồ-tát đem chậu nước lại, lọc sạch nước, sau đó rửa và lau chân cho các vị ấy. Rồi các đức Phật Bích Chi an tọa và thọ trai. Khi các vị ngồi đấy, Bồ-tát đi đến, cung kính ngồi xuống một bên và đặt câu hỏi mà mình đã nghĩ. Các đức Phật Bích Chi nói:

- Hoàng tử, hoàng tử không bao giờ trở thành vị vua của kinh thành này được. Nhưng tại Kiền-đà-la (Gandhāra), cách đây khoảng hai ngàn dặm, ở đấy có một kinh thành tên là Xoa-thi-la (Takkasilā). Nếu thái tử có thể đi đến kinh thành ấy thì trong bảy ngày thái tử sẽ trở thành vị vua ở đấy. Nhưng trên đường đến đó sẽ có nguy hiểm nếu đi ngang qua một khu rừng lớn. Còn nếu vòng qua khu rừng mà đi thì thời gian phải mất gấp đôi.  Ở khu rừng này có quỷ dạ xoa ở, và những nữ dạ xoa sẽ tạo ra làng mạc và nhà cửa hai bên đường đi. Bên dưới một mái vòm xinh đẹp được thêu những ngôi sao lên trên, bọn quỷ đặt một sàng toạ quý giá giữa những bức màn xinh đẹp có màu sắc tuyệt diệu. Rồi trang sức bằng đồ trang sức của chư thiên, bọn quỷ ngồi ở đấy và quyến rũ những người bộ hành bằng những lời lẽ dịu ngọt. Chúng nói: “Các vị trông mệt mõi lắm, hãy đến đây ăn uống rồi sau đó hãy đi.” Những ai đi đến chỗ chúng, sẽ được chúng mời ngồi, và sẽ bị sắc đẹp mỹ miều của chúng kích thích dục vọng. Nhưng hiếm khi họ hành lạc được bởi vì trước đó đám dạ xoa đã giết chết và ăn thịt họ trong khi máu chảy ròng ròng. Chúng sẽ dùng sắc đẹp yêu kiều của chúng để cám dỗ những ai đắm say sắc đẹp. Dùng âm thanh quyến rũ những ai ưa nghe lời ca ngọt ngào êm dịu. Dùng thiên hương cám dỗ những ai ham thích hương thơm. Dùng thiên thực có mùi vị tuyệt vời để cám dỗ những ai tham vị. Và dùng nệm đỏ mềm mại của chư thiên để cám dỗ những ai ưa thích xúc. Nhưng nếu hoàng tử không bị chúng cám dỗ, trước sau cương quyết không nhìn chúng thì trong vòng bảy ngày hoàng tử sẽ trở thành vua của kinh thành Xoa-thi-la.

- Thưa các Tôn giả, tôi có thể nào nhìn ngắm đám dạ xoa ấy khi đã được các Tôn giả khuyên bảo như vậy.

Nói vậy xong, Bồ-tát cầu xin các đức Phật Bích Chi hãy trao cho mình một thứ gì đó để hộ mệnh trong khi đi đường. Sau khi nhận được nơi các đức Phật Bích Chi một sợi dây bùa và một ít cát được chú nguyện, Bồ-tát từ giã họ và mẹ cha, rồi trở về chỗ ở của mình và nói với các người hầu như sau:

- Ta sắp đến Xoa-thi-la để làm vua ở đấy. Các vị hãy ở lại đây nhé.

- Thưa hoàng tử, chúng tôi cũng sẽ đi. Năm người hầu nói.

Bồ-tát nói:

- Các vị không thể đi với ta được. Bởi vì ta nghe nói rằng, trên đường đi đến đó, có một đám dạ xoa chuyên quyến rũ đàn ông và giết chết những ai bị sắc đẹp của chúng cám dỗ. Nguy hiểm rất lớn, nhưng ta tin tưởng ở bản thân mình và sẽ ra đi.

- Thưa hoàng tử, nếu đi với hoàng tử, chúng tôi sẽ không ngắm nhìn sắc đẹp mỹ miều của đám dạ xoa. Chúng tôi sẽ đi cùng với hoàng tử đến Xoa-thi-la.

- Vậy thì phải giữ tâm kiên định.

Bồ-tát nói và cùng với năm người này lên đường.

Đám nữ dạ xoa ngồi chờ trong những căn nhà gần ở bên đường. Và một trong năm người cùng đi với Bồ-tát, vì yêu thích vẻ đẹp của đám dạ xoa nên đã nhìn chúng, bị sắc đẹp của chúng cám dỗ nên đã đi tụt lại phía sau.

- Tại sao anh đi tụt lui sau như vậy? Bồ-tát hỏi.

- Thưa hoàng tử, tôi bị đau chân. Tôi sẽ ngồi nghỉ chân ở những căn lêu này chốc lát, và sau đó sẽ đi theo hoàng tử.

- Này anh bạn, đó là những con dạ xoa. Không nên yêu thích chúng.

- Thưa hoàng tử, biết là vậy nhưng tôi không thể đi xa được nữa.

- Thôi được, rồi anh sẽ thấy ngay sự thật vấn đề.

Bồ-tát nói và cùng với bốn người khác tiếp tục lên đường.

Bị cám dỗ, người ham thích sắc đẹp đi đến gần đám dạ xoa. Đám dạ xoa cám dỗ anh ta hành lạc và liền giết chết anh ta. Rồi đám dạ xoa đi lên trước con đường đó, dùng thần lực của mình dựng lên một căn lều mới, rồi ngồi trong đó ca hát với nhiều loại nhạc khí. Lần này, người yêu thích ca nhạc ở lại phía sau với chúng và bị ăn thịt. Sau đó đám nữ dạ xoa lại tiếp tục vượt lên trên và ngồi chờ trong một cửa tiệm nồng nàn nhưng mùi hương hấp dẫn. Và ở đấy, người ham mê hương thơm đã ở lại. Và sau khi ăn thịt vị này xong, đám dạ xoa lại tiếp tục vượt lên trước và ngồi chờ trong một cái quán ăn. Ở đó, có dồi dào thức ăn chư thiên với mùi vị tuyệt diệu được đem bán, và người tham ăn bị rơi lại. Rồi khi ăn thịt người này xong, đám nữ dạ xoa lại tiếp tục vượt lên trên, ngồi lên trên những sàng toạ của chư thiên được làm ra bằng thần lực của chúng. Và ở đấy, người ham thích xúc chạm êm dịu bị rơi lại phía sau, và anh ta cũng bị chúng ăn thịt.

Vậy là lúc này chỉ còn lại một mình Bồ-tát. Một con dạ xoa đi theo ngài, nghĩ rằng dù Bồ-tát có kiên định vững chãi đến đâu thì nó cũng sẽ ăn thịt được ngài và quay trở về. Phía bên kia khu rừng, những người phụ nữ cùng một số người khác nhìn thấy con quỷ dạ xoa thì hỏi nó người đàn ông đang đi trước nó là ai. Nó trả lời:

- Ông ấy là người chồng hiền lương của tôi đấy.

- Này anh bạn, anh có một người vợ trẻ dịu dàng, xinh đẹp giống như những bông hoa, đã rời bỏ gia đình để đặt lòng tin vào anh, vậy tại sao anh không đi cùng với cô ta mà để cô ta lê bước mệt mõi theo sau như vậy?

- Nó không phải là vợ của tôi mà là một con quỷ dạ xoa đấy. Nó đã ăn thịt năm người bạn của tôi.

Con dạ xoa nói:

- Ôi thưa các ông, người đàn ông mỗi khi tức giận lên thì nói chính vợ họ là dạ xoa ác quỷ.

Rồi sau đó, con quỷ dạ xoa đi theo sau Bồ-tát, khi thì biến hoá ra một phụ nữ mang thai, khi thì hoá làm một phụ nữ sinh con, khi thì bồng con bên hông. Người ta thấy như vậy thì cũng đặt câu hỏi giống như trước, và Bồ-tát cũng vừa đi vừa trả lời giống như trên.

Cuối cùng, Bồ-tát đi đến Xoa-thi-la. Ở đó, con dạ xoa làm cho đứa con biến mất và một mình nó đi theo sau Bồ-tát. Tại cổng thành, Bồ-tát đi vào ngồi nghỉ trong nhà trọ. Nhưng bởi thần lực của Bồ-tát, con quỷ dạ xoa không thể vào được. Vì thế, nó biến thành một tiên nữ xinh đẹp và đứng nơi ngưỡng cửa.

Vua Xoa-thi-la lúc đang trên đường đi đến ngự viên thì nhìn thấy nó và rồi bị sắc đẹp của nó quyến rủ. Ông nói với người hầu cận:

- Hãy đến tìm hiểu xem nàng ta đã có chồng hay chưa.

Và khi người hầu đi đến hỏi nó đã có chống hay chưa thì nó nói:

- Thưa ông, tôi đã có chồng. Chồng tôi đang ngồi trong nhà trọ này.

- Nó không phải là vợ của tôi. Nó là con quỷ dạ xoa đã ăn thịt năm người bạn của tôi đấy. Bồ-tát nói.

Giống như trước, con qủy dạ xoa nói:

- Ôi thưa ông, đàn ông mỗi khi giận dữ thì nói bất cứ những gì mà họ muốn.

Thế rồi người hầu trở lại chỗ nhà vua và thuật lại điều hai người đã nói. Nhà vua nói:

- Kho báu được tìm thấy là thuộc quyền của vua.

Rồi vua cho gọi con dạ xoa đến và đặt nó ngồi lên lưng voi. Sau khi long trọng diễu hành quanh kinh thành, nhà vua trở lại hoàng cung và cho con dạ xoa ở trong những căn phòng dành cho chánh phi. Sau khi tắm rửa và xức nước hoa, nhà vua ăn tối và nằm lên long sàng nghỉ. Nữ dạ xoa cũng ăn uống, sau đó trang điểm và nằm cùng với vua. Khi nằm một bên nhà vua, nữ dạ xoa quay người sang một bên và khóc lóc. Khi vua hỏi tại sao lại khóc, nó trả lời:

- Thưa hoàng thượng, hoàng thượng gặp thiếp bên đường và đưa thiếp về đây. Trong khi tại hậu cung này có rất nhiều cung nữ. Sống giữa những địch thủ ở nơi này thiếp cảm thấy như bị đè nát mỗi khi họ nói: “Cha mẹ của cô là ai? Gia đình dòng tộc của cô thế nào? Cô là người được nhặt ở bên đường.” Nhưng nếu hoàng thượng cho thiếp được quyền cai trị toàn bộ vương quốc này thì không có người nào dám quấy nhiễu thiếp bằng những lời sỉ nhục như vậy.

- Này ái khanh, trẫm không có quyền định đoạt đối với những ai sống trên vương quốc này. Trẫm không phải là chủ vương của họ. Trẫm chỉ có quyền xử trị những ai nỗi loạn và làm điều bất chính mà thôi. Vì thế trẫm không thể trao cho ái khanh năng lực và quyền uy cai quản toàn bộ vương quốc này được.

- Thưa hoàng thượng, nếu hoàng thượng không thể cho thiếp quyền cai trị vương quốc hay kinh đô này, thì ít ra cũng cho thiếp cái quyền điều khiển những người sống trong hoàng cung này chứ.

Bị sắc đẹp của nữ dạ xoa mê hoặc nên nhà vua không thể từ chối, ông bèn cho nó cái quyền điều khiển mọi người ở trong hoàng cung và bảo nó hãy cai trị họ. Nữ dạ xoa rất mãn nguyện. Rồi đợi cho vua ngủ say, nữ dạ xoa bèn quay về kinh đô dạ xoa và kéo một đám dạ xoa đông đảo trở lại hoàng cung. Nó giết chết nhà vua, ăn da gân và thịt, chỉ để lại xương trắng. Đám dạ xoa còn lại đi vào cổng hoàng cung, ăn thịt tất cả mọi thú vật khi chúng đi vào, không để sống sót một con gà hay một con chó nào. Ngày hôm sau, khi dân chúng đi đến, nhìn thấy cổng hoàng cung bị đống chặt, họ hốt hoảng la lớn và đập cửa đi vào. Vào trong, họ nhìn thấy xương trắng vung vãi khắp hoàng cung. Họ nói:

- Người đàn ông kia rất đúng khi nói cô ta không phải vợ mình mà là nữ dạ xoa. Nhà vua ngu si nên đưa cô ta về cung làm vợ, và không ngờ cô ta tập họp những nữ dạ xoa khác kéo đến ăn thịt mọi người và bỏ đi.

Bấy giờ, Bồ-tát đang cầm gươm đứng nơi căn nhà trọ để chờ trời sáng, với cát được chú nguyện để trên đầu và sợi dây bùa cuốn quanh trán. Cũng vào thời điểm ấy, những thần dân đang dọn dẹp hoàng cung, trang hoàng sàn nhà trở lại, rãi nước hoa, rắc hoa lên, treo những bó hoa tươi lên trần nhà, trang hoàng các bức tường bằng những vòng hoa, và đốt trầm xông trong hoàng cung. Sau đó họ tập trung lại và bàn bạc với nhau:

- Người đàn ông kia đã chế ngự được các giác quan của mình nên không nhìn nữ dạ xoa khi nó biến hoá thành một người có sắc đẹp tiên nữ đi theo sau. Đây là một con người ưu việt, có kiên định và đầy đủ trí tuệ. Vậy chúng ta hãy tôn người này lên làm vua.

Tất cả các đại thần và dân chúng của vương quốc đều đồng ý, vì thế Bồ-tát được chọn làm vua. Rồi họ rước Bồ-tát về kinh đô, ở đấy ngài được làm lễ quán đảnh và được tôn lên làm vua. Rồi tránh xa bốn ác đạo, thực hành theo mười vương pháp, Bồ-tát trị vì vương quốc bằng sự công chính. Rồi sau một đời bố thí và làm các việc thiện, Bồ-tát qua đời và đi theo hành nghiệp của mình.

   * * *

Kể xong câu chuyện, đức Phật Chánh Giác đã đọc lên bài kệ này:

Như người mang bát dầu

Đầy ắp, không để đổ

Hãy phòng hộ tâm mình

Như đến xứ sở lạ.

Như vậy, sau khi lấy Niết-bàn là điểm cao nhất làm mục đích thuyết pháp, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, đệ tử của Ta là các đại thần, còn ta chính là thái tử đã đạt được vương quốc.

Chuyện số 97: CHUYỆN TIN VÀO ĐIỀM TỐT XẤU TRONG TÊN GỌI (Tiền thân Nāmasiddhi)

Thấy Sống thì bị chết…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo tin rằng tên gọi chứa đựng điều tốt xấu trong ấy.

Chuyện kể rằng, một thiện gia nam tử có tên là “Ác”, đã đặt niềm tin vào Chánh pháp và xuất gia. Các Tỳ-kheo thường gọi vị này:

- Này pháp hữu Ác, hãy đến đây. Này pháp hữu Ác, hãy ở lại đây.

Vị này suy nghĩ: “Chữ ‘Ác’ mang nghĩa xấu xa và rủi ro. Ta  phải đổi tên này để lấy một cái tên khác tốt hơn. Vì thế, vị này cầu xin các sư trưởng và giáo thọ hãy đặt cho mình một cái tên mới. Nhưng các sư trưởng và giáo thọ nói rằng cái tên chỉ nhằm mục đích để gọi chứ không nhằm đến phẩm chất của một người, và bảo vị này hãy bằng lòng với cái tên được đặt. Sau đó vị này lại tiếp tục thỉnh cầu, cho đến khi toàn thể chư Tăng biết được sự việc vị này coi trọng vấn đề tên gọi. Và khi họ ngồi lại trong Chánh pháp đường và bàn luận về vấn đề đó thì đức Thế Tôn đi vào. Ngài hỏi họ đang bàn luận điều gì. Khi được trả lời, Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu Tỳ-kheo này tin rằng điều tốt xấu y cứ vào tên gọi, mà đời trước vị này cũng không bằng lòng với cái tên mà mình đang mang.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Một thuở, Bồ-tát là một vị giáo sư danh tiếng ở Xoa-thi-la (Takkasilā), và có năm trăm thanh niên Bà-la-môn theo Ngài học các kinh Vệ-đà. Trong số những thanh niên này, có một người tên là Ác. Và khi những người bạn của vị này luôn miệng gọi: “Này Ác, hãy đi; Này Ác hãy đến” đã khiến cho vị này muốn bỏ tên của mình để lấy một cái tên khác mà nó không mang điềm xấu. Vì thế, vị này đi đến thầy giáo của mình và xin một cái tên mới có nghĩa tốt hơn. Thầy giáo của vị này nói:

- Này con, con hãy đi khắp vương quốc này cho đến khi tìm ra một cái tên mà con thích, sau đó quay trở lại và ta sẽ đổi tên cho con.

Chàng thanh niên làm theo lời thầy bảo, mang theo lương thực, rong ruỗi hết làng này đến làng khác cho đến khi đi đến một thành phố nọ. Ở đấy, có một người đàn ông tên là Sống bị chết. Thanh niên Bà-la-môn nhìn thấy người này được mang đến nghĩa địa thì hỏi người này tên gì. Người ta trả lời:

- Tên Sống.

- Tên Sống mà cũng phải chết ư?

- Đúng vậy, tên Sống cũng phải chết. Dù tên Sống hay tên Chết cũng đều phải chết cả. Cái tên chỉ nhằm phân biệt giữa người với người thôi. Anh hình như là một kẻ ngốc!

 Nghe vậy xong, vị này đi vào kinh thành, lòng không còn yêu thích này chán ghét cái tên của mình nữa.

Bấy giờ, có một nữ tỳ tên là Giàu bị đuổi ra khỏi nhà, bị chủ nhân dùng dây quất vào mình bởi vì cô không mang tiền công về. Khi đi ngang qua con đường đó, nhìn thấy cô gái bị đánh đập như vậy, chàng trai hỏi lý do vì sao thì được trả lời rằng bởi vì cô ta không mang tiền công về.

- Vậy cô gái tên gì?

- Tên Giàu.

- Tên Giàu mà lại không kiếm được chút tiền công nhỏ sao?

- Dù cô ta được gọi tên là Giàu hay Nghèo thì tiền bạc không phải dành sẵn cho nó. Cái tên chỉ dùng để gọi thôi. Anh hình như là một kẻ ngốc!

Chấp nhận cái tên của mình, chàng trai rời khỏi thành phố, và trên đường đi, chàng nhìn thấy một người đàn ông bị lạc đường. Sau khi biết rằng người này đi lạc, chàng trai hỏi người này tên gì. Người này trả lời:

- Tôi tên là Dẫn Đường.

- Tên Dẫn Đường mà cũng đi lạc ư?

- Dẫn đường hay Lạc đường thì anh cũng có thể đi lạc như vậy. Cái tên chỉ dùng để phân biệt từng người. Anh hình như là một kẻ ngốc!

Hoàn toàn bằng lòng với cái tên của mình, thanh niên Bà-la-môn trở lại nhà thầy giáo. Bồ-tát hỏi:

- Thế nào, con đã chọn ra tên cho mình chưa?

- Thưa thầy, con thấy rằng dù tên Sống hay Chết cũng đều phải chết; dù tên Giàu hãy Nghèo cũng có thể nghèo; và dù Dẫn Đường hay Lạc Đường cũng có thể lạc đường. Con biết rằng cái tên chỉ dùng để gọi từng người, nó không chi phối đến số phận người mang tên đó. Vì bằng lòng với tên gọi của mình nên con không muốn đổi tên khác nữa.

Thế là, kết hợp những gì chàng trai đã làm và đã thấy, Bồ-tát đọc lên bài kệ:

Thấy Sống thì bị chết

Dẫn Đường lại lạc đường

Giàu làm người nghèo khó

Ác bằng lòng, quay về.

Kể xong câu chuyện, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, các thầy thấy đó, trước đây cũng như bây giờ, Tỳ-kheo này tin rằng có vận mệnh ở trong tên gọi.

Nói vậy xong, Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Tỳ-kheo không hài lòng với tên gọi của mình chính là chàng trai Bà-la-môn không bằng lòng với tên của mình, hội chúng của Ta là các học trò, còn Ta chính là người thầy của họ.

Chuyện số 98: CHUYỆN THƯƠNG NHÂN LỪA ĐẢO (Tiền thân Kūtavānija)

Hiền nhân thì chân thật…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thương nhân gian dối.

Chuyện kể rằng, có hai thương nhân ở thành Xá-vệ cùng chung vốn buôn bán. Họ mang hàng hoá ra đi và bán đem tiền trở về. Vị thương nhân gian dối suy nghĩ: “Người cộng sự của ta đã trải qua nhiều ngày ăn uống cực khổ và ngủ nghỉ sơ sài, nay trở về nhà được ăn uống linh đình với nhiều loại thức ăn ngon, anh ta có thể bị chết vì bội thực do ham thích ăn uống. Khi ấy, ta sẽ phân chia số tiền này thành ba phần, một phần cho con cái mồ côi của anh ta, còn hai phần thuộc về ta.” Với dự định như vậy, hết ngày này sang ngày khác, anh ta kiếm cớ trì hoãn mà không chịu chia tiền.

Nhận thấy rằng thúc ép người này phân chia chỉ là vô ích, vị thương nhân chân thật đi đến tinh xá gặp đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và được đón tiếp một cách ân cần. Đức Thế Tôn nói:

- Này cư sĩ, đã lâu rồi nay mới thấy ông đến đây.

Nghe nói vậy, vị thương nhân bèn kể với đức Thế Tôn những gì đã xảy ra. Đức Thế Tôn nói:

- Này cư sĩ, không phải chỉ nay người này mới là một thương nhân gian dối, mà trong đời quá khứ ông ta cũng từng như vậy. Cũng như bầy giờ ông ta không chịu chia tiền cho ông, vào đời trước ông ta cũng không chịu chia tiền cho người hiền trí.

Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của vị thương nhân chân thật, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmdatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát sanh vào một gia đìng thương nhân, và vào ngày lễ đặt tên được đặt tên là Hiền Nhân. Khi trưởng thành, Bồ-tát chung vốn với một thương nhân khác có tên là Đại Hiền nhân và cùng buôn bán với người này. Rồi hai người đưa năm trăm xe hàng hoá từ Ba-la-nại đến các miền quê để bán, và sau đó mang tiền trở lại kinh thành. Đến lúc chia tiền, Đại Hiên nhân nói:

- Tôi phải lấy hai phần.

- Vì sao? Hiền nhân hỏi.

- Bởi vì anh chỉ là Hiền nhân, trong khi tôi là Đại Hiền nhân. Hiền nhân chỉ xứng nhận lấy một phần, còn Đại Hiền nhân xứng lấy hai phần.

- Nhưng cả hai chúng ta đều ngang nhau trong việc góp hàng cũng như bò và xe. Vậy tại sao anh lại được chia hai phần?

- Bởi vì tôi là Đại Hiền nhân.

Họ lời qua tiếng lại như thế cho đến khi lớn tiếng cãi vã nhau. Đại Hiền nhân nghĩ: “Tốt rồi, ta đã có kế.” Rồi ông ta bắt cha mình nấp vào trong một bụi cây và bảo:

- Thưa cha, khi con và thương nhân Hiền Nhân kia đến đây hỏi rằng ai trong hai người được chia hai phần thì cha hãy nói: Đại Hiền nhân nên có hai phần.

 Sắp xếp vậy xong, ông ta đi đến Bồ-tát và nói rằng ông ta có được hai phần hay không là dựa vào thẩm quyền quyết định của Thần cây. Rồi ông ta đi đến gốc cây và khẩn khoản nói thế này:

- Thưa Thần cây, xin phân chia cho chúng tôi.

Người cha trốn trong bọng cây liền giả giọng hỏi họ về thực trạng vấn đề. Kẻ lừa đảo nói với cây như sau:

- Thưa thần cây, đây là Hiền nhân, còn tôi đây là Đại Hiền nhân. Chúng tôi là đồng sự buôn bán với nhau. Xin quyết định giúp số tiền chia mà mỗi người chúng tôi nhận được là thế nào.

- Hiền Nhân nhận được một phần, còn Đại Hiền Nhân nhận được hai phần.

Nghe quyết định ấy, Bồ-tát quyết tìm hiểu xem đó có thực là thần cây hay không. Vì thế, ngài chất rơm đầy vào bọng cây và châm lửa đốt. Người cha của Đại Hiền Nhân bị ngọn lửa thiêu cháy thì vội leo lên nắm lấy một cành cây, rồi bị rơi xuống đất và đọc lên bài kệ này:

Hiền Nhân thì chân thật

Đại Hiền Nhân xấu ác

Bởi vì Đại Hiền Nhân

Ta bị lửa thiêu thân.

Vậy là cuối cùng, hai người thương nhân chia số tiền ấy ra hai phần bằng nhau và mỗi người nhận lấy một phần. Và về sau họ qua đời và đi theo hành nghiệp của mình.

* * *

Đức Thế Tôn nói:

- Như vậy này cư sĩ, ông thấy đấy, đời trước cũng như đời nay, người cộng sự của ông là một người gian dối.

Kết thúc câu chuyện, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vị thương nhân gian dối bây giờ cũng là vị thương nhân gian dối thuở đó, còn thuở đó ta chính là vị thương nhân lương thiện.

Chuyện số 99: CHUYỆN HƠN MỘT NGÀN KẺ NGU (Tiền thân Parosahassa)

Dầu một ngàn kẻ ngu…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về các câu hỏi của những kẻ phàm phu. Những tình tiết của câu chuyện này sẽ được trình bảy ở Tiền thân Sarabhaga, số 522.

Một lần, các Tỳ-kheo tập trung lại trong Chánh pháp đường và tán thán trí tuệ của Tôn giả Xá-lợi-phất, bậc Tướng Quân Chánh Pháp, người đã giảng giải rõ ràng về nghĩa lý lời dạy súc tích của đức Phật. Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang thảo luận điều gì. Khi nghe trình bày vấn đề, Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu nghĩa lý lời dạy súc tích của ta được Xá-lợi-phất giảng giải rõ ràng, mà đời trước Xá-lợi-phất cũng đã từng giảng giải như vậy.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát sinh vào một gia đinh Bà-la-môn ở phương Bắc và về sau đã hoàn thành việc học ở Xoa-thi-la. Từ bỏ các tham dục, Bồ-tát xuất gia sống đời tiên nhân ẩn sĩ, chứng được ngủ thông và bát thiền, sống ở Tuyết sơn cùng với năm trăm ẩn sĩ vây quanh.

Một mùa mưa nọ, vị đệ tử trưởng của Bồ-tát cùng với một nửa hội chúng ẩn sĩ đi đến những nơi có dân chúng sống để kiếm muối và giấm. Và bấy giờ cũng là thời điểm Bồ-tát sắp qua đời. Những đệ tử của Ngài muốn biết Ngài đã chứng được quả gì nên hỏi:

- Thưa Tôn sư, Tôn sư đã chứng được quả vị gì?

- Chứng đắc ư? Ta không chứng đắc được quả gì cả.

Nói vậy xong thì Ngài qua đời, và sau đó được sanh về cõi Phạm thiên Quang âm thiên (các Bồ-tát cho dù đạt được thiền chứng thì vẫn không bao giờ được sanh vào cõi trời vô sắc giới, bởi vì họ không thể vượt qua được cõi trời sắc giới.) Không hiểu được ý nghĩa, các đệ tử bèn kết luận rằng thầy của họ không có sở chứng gì cả. Vì thế họ không tổ chức lễ hỏa táng một cách trọng thể.

Vị đệ tử thượng thủ quay về và hay tin thầy mình đã mất, bèn hỏi những vị kia là họ có hỏi thầy mình có đạt được sở chứng gì hay không. Những người kia nói:

- Thầy nói thầy không chứng đắc gì cả. Vì thế chúng tôi không tổ chức lễ hỏa táng cho thầy một cách trọng thể được.

Vị đệ tử thượng thủ nói:

- Các anh không hiểu ý thầy gì cả. Thầy chúng ta muốn nói rằng thầy đã chứng được thiền Vô sở hữu xứ.

Nhưng dầu vị đệ tử trưởng có giảng giải nhiều lần thì các đệ tử kia vẫn không tin ông. Biết họ không tin, Bồ-tát nói: “Những kẻ ngu ngóc này không tin người đệ tử trưởng của ta. Ta sẽ làm cho họ hiểu rõ điều này.” Vì thế, bằng thần lực phi thường của mình, Bồ-tát từ cõi trời Phạm thiên đi xuống, đứng giữa không trung phía trên trú xứ các ẩn sĩ và đọc lên bài kệ này để tán thán trí tuệ của vị thượng thủ đệ tử:

Dầu một ngàn kẻ ngu

Thương khóc suốt trăm năm

Không bằng được một người

Nghe xong hiểu ngay nghĩa.

Bậc Đại sĩ đứng giữa không trung thuyết Pháp và khiển trách các vị ẩn sĩ như vậy, rồi sau đó trở lại cõi Phạm thiên. Còn các ẩn sĩ kia, về sau mạng chung cũng đủ điều kiện để sanh về Phạm thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Xá-lợi-phất và vị thượng thủ đệ tử, còn ta chính là Đại Phạm thiên.

Chuyện số 100: CHUYỆN SẮC THÂN BẤT LẠC (Tiền thân Asātarūpa)

Dưới lốt vỏ niềm vui…

Trong khi trú tại Kuṇḍa-dhānavana gần thành Kuṇḍiya, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về nữ cư sĩ Suppavāsā, con gái của vua Koliya.

Bấy giờ, nữ cư sĩ này mang thai đến bảy năm, trải qua bảy ngày sinh nở, nhận chịu đớn đau cực độ. Bất chấp đớn đau, cô suy nghĩ như sau: “Chánh Đẳng Giác là đức Thế Tôn, Người đã thuyết Pháp để chấm dứt khổ đau như thế này. Chơn chánh là đệ của đức Thế Tôn, những người khéo tu hành để chấm dứt khổ đau như thế này. An lạc là Niết-bàn, nơi khổ đau như thế này đã chấm dứt.” Ba tư niệm này là nguồn an ủi của cô trong cơn đau đớn. Rồi cô nhờ chồng đến chỗ đức Phật kể lại tình trạng của cô và mang lời kính lễ của cô đến với Ngài.

Nhận được lời cô, đức Thế Tôn cầu nguyện: “Mong cho Suppavāsā, con gái của vua Koliya luôn khỏe mạnh, an ổn và sinh được một đứa bé mạnh khoẻ.” Và nhờ những lời này của đức Thế Tôn, cô Suppavasa, con gái của vua Koliya đã trở nên mạnh khỏe, an ổn và sanh được một đứa bé khỏe mạnh.

Người chồng trở về nhà, biết được vợ mình đã sinh nở an lành thì vô cùng kinh ngạc về năng lực vi diệu của đức Phật. Bấy giờ, khi sanh con được bảy ngày, Suppavasa mong muốn cúng dường cho đức Phật và các Tỳ-kheo trong vòng bảy ngày nên nhờ chồng đến tinh xá mời chư vị.

Bấy giờ, đức Phật và Tăng chúng đã nhận lời mời của một nam cư sĩ là tín chủ của Đại Mục-kiền-liên. Nhưng đức Thế Tôn muốn khuyến khích lòng yêu thích bố thí của Suppavāsā nên cho người đến trình bày vấn đề với Tôn giả Mục-kiền-liên, và chấp nhận lời thỉnh mời thọ trai trong bảy ngày của Suppavāsā. Vào ngày cúng dường thứ bảy, Suppavāsā mặc áo vào cho đứa con nhỏ của mình tên là Sīvāli và bảo nó đảnh lễ đức Phật và Tăng chúng. Và khi đứa bé được đưa đến chỗ Xá-lợi-phất, Tôn giả ân cần hỏi han đứa bé và nói:

- Này Vīsali, mọi việc đối với con đều tốt cả chứ?

Đứa bé trả lời:

- Bạch Tôn giả, làm sao tốt được khi bảy năm dài con phải dầm mình trong máu.

Nghe thế, Suppavāsā hoan hỉ nói:

- Con trai của tôi chỉ mới bảy ngày mà đã đàm đạo được với Tôn giả Xá-lợi-phất, bậc Tướng Quân Chánh Pháp.

Đức Thế Tôn hỏi:

- Này Suppavāsā, con có muốn có một người con khác như vậy không?

- Bạch Thế Tôn, nếu có thêm bảy đứa con trai như vậy con cũng muốn. Suppavāsā trả lời.

Rồi bằng giọng nghiêm trang, đức Thế Tôn hồi hướng công đức cúng dường của Suppavāsā và ra về.

Còn cậu bé Sīvala về sau, lúc lên bảy tuổi, đã phát tâm theo Đạo và xuất gia gia nhập Tăng đoàn. Đến năm hai mươi tuổi, Sīvala thọ giới cụ túc Tỳ-kheo. Thầy thực hành các thiện pháp và chứng được thiện pháp tối thượng của cuộc đời là quả vị A-la-hán, lúc ấy quả đất vang lên lời hoan hỉ.

Một hôm nọ, các Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường và bàn luận vấn đề:

- Thưa các pháp hữu, Trưởng lão Sīvali bây giờ sáng ngời như vậy trước đây là một đứa trẻ được nhiều người chú nguyện. Trưởng lão nằm trong thai mẹ bảy năm và trải qua bảy ngày sinh nở. Nỗi khổ đau của hai mẹ con Trưởng lão thật cùng cực! Không biết họ gieo nhân gì mà chịu quả khổ đau như vậy?

Đức Thế Tôn đi vào Chánh pháp đường và hỏi các Tỳ-kheo đang bàn luận việc gì. Khi nghe kể lại vấn đề, đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, Sīvali là người đại thiện hạnh, bảy năm ở trong bào thai và trải qua bảy ngày sinh nở tất cả là do những nghiệp quá khứ của mình. Và suppavāsā bảy năm mang thai và bảy ngày sinh nở đau đớn kết quả cũng do những nghiệp quá khứ của mình.

Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát làm con của hoàng hậu. Đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát đến Xoa-thi-la (Takkasilā) để theo học các ngành học. Rồi đến lúc phụ vương băng hà, Ngài lên ngôi vua và trị vì một cách công chính. Bấy giờ, vua nước Câu-tát-la (Kosala) kéo một đạo quân hùng mạnh đến đánh xứ Ba-la-nại, giết chết nhà vua và mang hoàng hậu về làm vợ mình.

Khi nhà vua bị giết chết, con trai của ngài đã chui qua ống cống để trồn thoát. Rồi về sau khi tập hợp được một đội quân hùng mạnh, hoàng tử đã trở về Ba-la-nại, đống quân gần kinh thành, gửi thư vào hỏi vị vua ở đấy rằng muốn đầu hàng giao vương quốc hay là muốn đánh nhau. Vị vua ở đây gửi thư trả lời rằng muốn đánh nhau. Nhưng khi nghe tin này, mẹ của hoàng tử trẻ gửi thư nói với con rằng: “Không cần phải đánh nhau. Hãy đến gần kinh thành, bao vây và giữ chặt mọi hướng, chờ cho đến khi nào củi, nước và thực phẩm của người trong thành khô cạn, bấy giờ kinh thành sẽ rơi vào tay con mà không cần phải đánh nhau gì cả.”

Làm theo lời khuyên của mẹ, hoàng tử bao vây và phong tỏa lấy kinh thành trong bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, dân chúng kéo đến chặt đầu nhà vua và mang nộp cho thái tử. Rồi thái tử đi vào thành, đứng lên làm vua, và khi mạng chung đã đi theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết quả của việc bao vậy kinh thành trong bảy ngày là bảy năm ở trong bào thai và trải qua bảy ngày sinh nở. Nhưng do vì hoàng tử đã quỳ xuống nơi chân đức Phật Tối Thắng Bạch Liên (Padumuttara), dâng phẩm vật cúng dường và cầu nguyện chứng đắc quả vị A-la-hán, và do vì vào thời đức Phật Tỳ-bà-thi (Vippassī), hoàng tử đã cùng với thị dân của mình cúng dường những phẩm vật lớn và cũng cầu nguyện như vậy, nên này Sīvali đã chứng được quả A-la-hán. Còn Suppavāsā, do vì đã gửi thư bảo con bao vây lấy kinh thành nên phải chịu mang thai trong bảy năm và chịu bảy ngày sinh nở đau đớn.

Kết thúc câu chuyện, đức Phật Chánh Giác đã đọc lên bài kệ:

Dưới lốt vỏ niềm vui

Cùng những điều phúc lạc

Sự đau buồn đi đến

Và chính đau khổ này

Chế ngự kẻ phóng dật

Sau khi kể xong câu chuyện này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, Sīvali là hoàng tử đã bao vây kinh thành và trở thành vị vua,. Suppavāsā là người mẹ, còn ta chính là vua Ba-la-nại, cha của thái tử.

Chương I        Chương II       Chương III       Chương IV        Chương V    

Chương VI     Chương VII     Chương VIII     Chương IX        Chương X

Chương XI     Chương XII     Chương XIII     Chương XIV     Chương XV

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Hội PG Thảo Đường


  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp   


    Lịch sinh hoạt Phật sự

        

      Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem chi tiết lịch sinh hoạt  

      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh   


       

      Tôn ảnh Phật ngọc

       

       

         Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

      Đọc tiếp   

       

      Các trang web liên kết