THIỀN SƯ THẢO ĐƯỜNG

   Sư người Trung Hoa, là đệ tử của Thiền sư Trùng Hiển ở Tuyết Đậu (Trung Quốc), đến nước Chiêm Thành (Champa) hoằng dương Phật Pháp.

Năm Kỷ Dậu (1069), vua Lư Thánh Tông nước Đại Việt đem quân đánh Chiêm Thành bắt được vua nước ấy là Chế Củ cùng với một số tù binh. Khi về tới kinh đô Thăng Long, Vua ban cho bá quan những tù binh để làm nô bộc. Sư cũng nằm trong số tù binh ấy. T́nh cờ Sư được chia cho một vị Tăng lục, là người chuyên coi việc tăng sự tại triều.
Hàng ngày, trong thân phận kẻ nô bộc, Sư vẫn làm mọi công việc trong nhà Tăng lục. Một hôm, Tăng lục đi vắng, Sư thấy bản Ngữ lục để trên bàn có mấy chỗ sai, bèn tự ư sửa chữa lại. Vị Tăng lục đi về, xem thấy thế rất ngạc nhiên v́ những đoạn sửa đều chuẩn xác, hỏi ra mới biết là Sư sửa. Ông đem việc ấy tâu lên vua Lư Thánh Tông. Vua đ̣i Sư vào triều, đem kinh luận và thiền hỏi Sư. Sư ứng đối rất lanh lẹ và xác đáng, truy nguyên ra mới biết rơ tông tích của Sư. Thấy Sư “là người có đức hạnh, lại tinh thông Phật điển, bèn bái làm thầy“.

Từ đó, vua Lư Thánh Tông thường thưa hỏi Phật pháp nơi Sư và phong Sư chức Quốc sư, mời Sư đến trụ tŕ tại chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quôc) trong thành Thăng Long. Do thiền học của Quốc sư có những nét mới lạ so với hai thiền phái đương thời là Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông, nên đồ chúng nghe tiếng t́m đến tham vấn rất đông. Do đây thành lập nên phái thiền thứ ba ở Việt Nam, có tên là Thiền phái Thảo Đường.

Theo tài liệu, thiền sư Thảo Đường là đệ tử của thiền sư Trùng Hiển (980-1052), thuộc về thế hệ thứ ba của thiền phái Vân Môn, sau được vua Tống ban hiệu là Minh Giác đại sư) ở núi Tuyết Đậu (Chiết Giang, Trung Quốc). Mà Vân Môn và Tuyết Đậu (hiệu Minh Giác đại sư) đều là thiền sư bác học và có khuynh hướng văn học. Cả hai người đều nhằm tới hoằng dương Thiền học trong giới trí thức, đưa giới Nho gia đến gần với đạo Phật và trở nên Phật tử. Chính khuynh hướng Nho-Phật dung hợp này đă thống trị tư tưởng Trung Quốc trong buổi đầu nhà Tống. Và đặc điểm này đă làm ảnh hưởng nhiều tới Phật giáo đời Trần ở Việt Nam.

Theo sách Thiền sư Việt Nam, đến 50 tuổi, thiền sư Thảo Đường có chút bệnh, ngồi kiết già mà tịch.

Chùa Trấn Quốc - Nơi xuất phát thiền phái Thảo Đường

Thiền phái Thảo Đường:

Thiền phái Thảo Đường do thiền sư Thảo Đường sáng lập truyền thừa được 5 đời, từ năm 1069 đến 1205. Nhưng v́ có quá ít tài liệu nên người đời sau gần như không biết ǵ về nội dung tư tưởng của phái thiền này.
Sách Thiền Uyển Tập Anh có ghi tên tuổi 19 người thuộc phái Thảo Đường, nhưng không ghi lại tiểu sử, niên đại và các bài truyền thừa của mỗi vị. Tất cả được phân làm sáu thế hệ như sau:

THẾ HỆ I : Có 3 người :

- Vua Lư Thánh Tông.

- Thiền sư Bát Nhă.

- Cư sĩ Ngộ Xá.

THẾ HỆ II : Có 4 người :

- Thiền sư Không Lộ.

- Thiền sư Hoằng Minh (Thiệu Minh).

- Thiền sư Giác Hải (Định Giác).

- Tham chính Ngô Ích.

THẾ HỆ III : Có 4 người :

- Thiền sư Phạm Âm.

- Thiền sư Đỗ Đô.

- Vua Lư Anh Tông.

- Thái phó Đỗ Vũ.

THẾ HỆ IV : Có 3 người :

- Thiền sư Trương Tam Tạng.

- Thiền sư Chân Huyền.

- Thái phó Đỗ Thường.

THẾ HỆ V : Có 4 người :

- Thiền sư Hải Tịnh.

- Vua Lư Cao Tông.

- Phụng ngự họ Phạm.

- Xướng nhi Quản giáp Nguyễn Thức.

Ảnh hưởng và lụi tàn

Thiền sư Thảo Đường đă giảng các tập Tuyết Đậu ngữ lục mang vẻ đẹp của thơ của thầy (tức thiền sư Tuyết Đậu) nhiều lần tại chùa Khai Quốc. Khuynh hướng thiền học trí thức và thi ca đă từ đó ảnh hưởng đến hai thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông. Sau này thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của đời Trần c̣n tiếp tục chịu ảnh hưởng này.
Tuy nhiên, thiền phái Thảo Đường chỉ truyền đến năm 1205 th́ dứt. Lư giải cho điều này, trong sách Việt Nam Phật giáo sử luận (Tập 1) có nhận xét bước đầu như sau:
...” V́ khuynh hướng thiên trọng trí thức và văn chương của thiền phái Thảo Đường, nên thiền phái này đă không cắm rễ được trong quần chúng mà chỉ ảnh hưởng đến một số trí thức có khuynh hướng văn học. Trong số 19 người thuộc thiền phái Thảo Đường được ghi chép ở sách Thiền Uyển Tập Anh, ta thấy chỉ có 10 vị là người xuất gia: Thảo Đường, Thiệu Minh, Phạm Âm, Đỗ Đô, Trương Tam Tạng, Chân Huyền, Hải Tịnh, Bát Nhă, Không Lộ Và Định Giác (tức Giác Hải, đồng thời cũng thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông). Ta thấy có tới 9 vị là cư sĩ, mà phần nhiều là vua với quan: Lư Thánh Tông, Lư Anh Tông và Lư Cao (đều là vua), Ngô Ích là quan tham chính, Đỗ Vũ là quan thái phó, Nguyễn Thức là quan quản giáp... V́ những lư do trên, thiền phái Thảo Đường đă không đủ sức tạo nên một truyền thống sinh hoạt tăng viện độc lập có thể lưu truyền về sau.


 

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Bạn đọc gửi bài