NHỮNG KHOẢNH KHẮC MẦU NHIỆM

  Tác giả: Lan Hương - Tâm Diệu Hương 

Đoàn đi Ấn Độ của chúng tôi có 47 người, những con người từ những quốc gia khác nhau, từ những thành phố khác nhau, với những lứa tuổi khác nhau, nhưng có lẽ cùng giống nhau ở một điểm là ai cũng thật chờ đợi chuyến đi này. Có người đã chờ đợi chuyến đi từ một năm trước, từ khi mới nghe tin Thầy Thông Trí sẽ tổ chức đi Ấn Độ năm nay. Có người chỉ mới được chờ đợi trước đó hai tuần vì có người vừa nhường chỗ. Cũng có thể có nhiều người cũng giống tôi, đã chờ đợi và mơ ước về chuyến đi thật nhiều năm. Với tôi, chuyến đi đã có trong những giấc mơ từ 20 năm trước. Hai mươi năm trước tôi nhận được bộ tiểu thuyết Đường xưa mây trắng của sư ông Nhất Hạnh và đã đọc bộ sách thật say mê, đã theo dấu chân của Đức Thế Tôn đi khắp mọi miền của nước Ấn Độ, để thấy Đức Thế Tôn vừa thật gần gũi như một người ruột thịt, mà cũng thật vĩ đại biết bao, giáo lý của Người thật giản dị mà cũng thật huyền diệu biết bao.

1. Khởi hành

Đoàn du khách từ nước Nga của chúng tôi có 14 người, chia thành hai nhóm nhỏ, mỗi nhóm đi một hành trình khác nhau. Nhóm chính đi bằng chuyến bay của hàng không Thổ Nhĩ Kỳ, bay qua Istambul, rồi từ đó bay đến thủ đô New Delhi của Ấn Độ. Còn một nhóm nhỏ chỉ có 3 ngnười thì bay trên chuyến bay của hàng không Nga Aeroflot thẳng một mạch từ Moscow đến New Delhi. Không phải chúng tôirất Việt Nam, mỗi người một ý mà tách đoàn ra như vậy, chỉ đơn giản là những người đến phút chót mới có cơ hội tham gia chuyến đi không mua được vé đi theo đoàn chính nữa đành phải đi một hành trình riêng. Mặc dù phải dừng chân nghỉ thêm một chặng, nhưng chúng tôi được đền bù vì có cơ hội gặp các Thầy, các anh chị từ các nước khác sớm hơn một chút, chia tay nhau chậm hơn một chút. Cái một chút này, lúc đi thì chưa ai cảm thấy nó dễ thương, nhưng đến lúc về thì thật là cảm động, được gần nhau thêm một ít thời gian, nói thêm một lời chào tạm biệt thấy sao mà thân thương thế. Những ngày đi bên nhau trong một chuyến đi diệu kỳ đã làm mọi người gần nhau hơn, thương nhau hơn, để đến lúc phải chia tay sao thấy thật nhanh quá. Thêm được một chặng đi cùng nhau thấy thật là quý biết bao.


Gặp nhau ở sân bay Istambul

2.  Nhìn thấy Xá Lợi như thấy hình bóng Đức Thế Tôn

Chuyến hành hương của chúng tôi bắt đầu bằng việc đến thăm hai viện bảo tàng lớn của Ấn Độ để đảnh lễ hai Xá lợi Phật đáng tin cậy nhất còn lại trên thế giới. Có lẽ, không phải tự nhiên các vị Thầy của chúng tôi đã sắp xếp như vậy. Thủa xưa, Đức Phật đã nói, vào thời không có Phật, nhìn thấy Xá lợi của Người cũng chính là được nhìn thấy Phật. Các Thầy đã mong chúng tôi được nhìn thấy Xá Lợi của Phật, để chúng tôi cảm nhận được sự hiện diện của Phật thật sống động và gần gũi để rồi hình bóng ấy sẽ hiện diện trong tâm chí chúng tôi trên suốt cuộc hành trình, làm cho tất cả những nơi chúng tôi đến dường như thực sự đang có Đức Thế Tôn hiện diện.
Danh từ Xá Lợi xuất phát từ âm tiếng Phạn là Sàrìrikadhàtu. Tất cả những gì còn để lại của Phật và các vị Thánh Tăng như y, bình bát, tích trượng, cho đến những gì còn lại trong tro của các Ngài sau lễ Trà tỳ v.v. đều gọi là Xá Lợi. Hiện nay ở Miến Điện, người ta còn thờ tóc của Đức Phật khi Ngài còn sống đã cho hai vị đệ tử tại gia đầu tiên. Trong kinh tạng Pali thường đề cập đến Xá Lợi Xương, Xá Lợi Răng và Ngọc Xá Lợi. Đây là những bảo vật của các quốc gia Phật giáo.

Ngay sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, Xá lợi của Người để lại đã được phân chia cho tám quốc gia và được bảo quản rất cẩn thận trong nhiều bảo tháp. Thế nhưng với dòng lịch sử nổi trôi, với những cuộc chiến tranh của người Hồi giáo, những bảo tháp ấy đã bị tàn phá để rồi không ai biết được những viên Xá Lợi của Phật bị trôi dạt đi những đâu. Đến nay người ta chỉ còn biết đến một vài nơi đáng tin cậy còn lưu giữ những Xá Lợi của Phật. Ở Ấn Độ có hai nơi lưu giữ Xá Lợi của Phật là viện bảo tàng quốc gia ở New Delhi và viện bảo tàng ở Patna- thành phố Hoa Thị thủa nào. New Delhi, thủ đô và là một trong bốn thành phố lớn nhất của nước Ấn Độ ngày nay, thế nhưng nó lại không phải là trung tâm Phật giáo thời Đức Phật còn tại thế, nên ở đây không có những thánh tích Phật Giáo như những thành phố khác. Địa danh duy nhất gắn New Dehli với Phật Giáo chính là viện bảo tàng quốc gia với bảo tháp chứa Xá lợi của Phật.

Viện bảo tàng quốc gia ở New Delhi là một trong những viện bảo tàng lớn nhất Ấn Độ. Nó đã được thành lập từ năm 1947 và hiện đang trưng bầy hơn 200 ngàn hiện vật lịch sử khác nhau. Tòa nhà hiện đang trưng bầy các hiện vật do chính vị thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, Ngài Neru đặt viên đá đầu tiên năm 1955. Thế nhưng hình như dòng người nối đuôi nhau vào đây không ngớt chỉ để đến một nơi duy nhất là bảo tháp chứa Xá lợi của Phật. Ở đây cất giữ một bảo tháp bằng vàng chứa 20 viên xá lợi xương đầu của Phật. Những viên xá lợi này được các nhà khảo cổ của Ấn Độ tìm được năm 1972 ở Piprahwa, một địa danh ở phía tây bắc Ấn Độ, sát biên giới với Nepal. Trong số những viên ngọc xá lợi này, viên lớn nhất đường kính tới 3*5 cm. Đây cũng chính là nơi mà hơn 100 năm trước, vào năm 1897, viên kỹ sư người Anh, Ngài Pepe đã tìm thấy những viên xá lợi đầu tiên. Những viên Xá lợi này được ghi nhận là phần xá lợi được phân chia cho bộ tộc Sakya mang về thờ sau khi Phật nhập diệt.

Viện bảo tàng đã dành cho Tháp xá lợi một phòng lớn, thật là thuận tiện để các đoàn hành hương đến đảnh lễ và tụng kinh. Từng đoàn người lặng lẽ đến đây chiêm ngưỡng xá lợi, mỗi đoàn có một kiểu trang phục khác nhau, mỗi đoàn tụng kinh bằng một ngôn ngữ khác nhau, nhưng sự thành kính của tất cả mọi người khi ngước nhìn lên Bảo Tháp thì ai cũng giống ai.

Nhiễu quanh Tháp Xá Lợi Phật

Đảnh lễ Xá Lợi Phật

Viện bảo tàng ở Patna nằm trong một khu vườn thật xinh đẹp, với những hàng cây được cắt tỉa cẩn thận và xanh tươi. Trong không gian cả thành phố còn bề bộn cùng rác thải, khái niệm về cái đẹp hoàn toàn vắng bóng thì sự chăm sóc thật chu đáo cho vẻ đẹp của viện bảo tàng này cho ta hiểu được sự hiện diện của bảo tháp Xá Lợi ở đây là một quốc bảo quý giá. Hộp đựng Xá Lợi được trưng bầy trong một phòng riêng, đặc biệt và được bảo vệ bằng hai lớp khóa với cửa sắt bên ngoài. Mỗi khi có một đoàn tới viếng thăm, người ta mới cẩn thận mở cửa gian phòng này, và còn cẩn thận cử thêm hai người bảo vệ vào để quan sát trong thời gian có người ở bên trong. Mặc dù bảo vệ cẩn thận như vậy, nhưng hộp đựng xá lợi còn được cất sâu trong một ngăn tủ kính chống đạn và du khách chỉ có thể nhìn thầy hộp đựng Xá lợi chứ không có cơ hội nhìn thấy những viên Xá lợi nằm bên trong. Hộp Xá lợi này do nhà khảo cổ Altekar tìm thấy năm 1958 trong khi khai quật một bảo tháp cổ tại thành Tỳ Xá Li- Vaishali. Trong hộp không chỉ có những viên Xá lợi như pha lê mà còn chứa đầy thứ tro linh thiêng của Đức Phật còn lại sau lễ Trà Tỳ. Chính nhờ được cất giữ riêng như vậy nên mỗi đoàn đều có cơ hội được ở bên Đức Thế Tôn thật trọn vẹn, cũng như xưa kia được vào am thất của Người đảnh lễ và diện kiến vậy. Mỗi người có thể cầu nguyện với Phật những tâm tư riêng của mình, có thể để lòng thật yên tĩnh để cảm nhận sự thiêng liêng của những giây phút thật đặc biệt này, những giây phút mà dường như khoảng cách hơn 2500 năm không còn nữa, và chúng ta được hiện diện trước Đức Thế Tôn thật sống động.

Patna hiện nay là thủ phủ của tiểu bang Bihar, một thành phố với hơn một triệu dân, không mấy hoa lệ, thậm chí có thể nói là khá nghèo với phong cảnh hoang tàn, nhưng ba trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt, vào thời của vua A Dục (Asoka), nơi đây đã là thủ đô của nước Ấn Độ rộng lớn, là trung tâm buôn bán sầm uất thời bấy giờ. Chính ở đây đã diễn ra cuộc kết tập kinh điển của Phật lần thứ 3 tại công viên Kumhara. Nơi đây nguời ta đã tìm thấy cây cột đá mà vua A Dục đã dựng lên để ghi dấu sự kiện này. Cây cột đá đã bị gẫy đổ bởi sự tàn phá của con nguời, nhưng chúng ta vẫn có thể nhận ra những nét đặc trưng của cây cột đá nổi tiếng.

Bảo tàng Xá Lợi Phật - Patna

3. Tỳ Xá Li (Vaishali) thành phố có nhiều sự kiện đáng nhớ

Từ Patna, chúng tôi ghé thăm thành phố Tỳ Xá Li, thành phố nhỏ đã được nhắc đến rất nhiều trong các kinh điển Phật giáo. Thời Phật còn tại thế, Nguời thuờng ghé qua Tỳ Xá Li trên đường từ thành Vương Xá sang Xá Vệ, và nguợc lại. Đây là thành phố dân chủ nhất thời cổ, dân chúng ở đây đã làm theo bẩy nguyên tắc hành xử khôn ngoan nên đã trở nên một quốc gia hùng mạnh, mà ngay cả quốc gia to lớn bên cạnh là Ma Kiệt Đà cũng không dám tấn công. Sau khi Phật nhập diệt rồi, các đệ tử của Nguời và các vị vua đã mang Xá Lợi của Phật từ Câu Thi Na về đây để họp bàn việc phân chia, chỉ một việc đó thôi cũng đủ để thấy thành phố này có một vai trò quan trọng như thế nào thời bấy giờ. Giờ đây chúng ta vẫn còn nhìn thấy nền móng của bảo tháp được dựng lên để ghi dấu sự kiện quan trọng này.

Một di tích nữa thật cảm động, mà chúng ta không thể bỏ qua khi đến thành phố này, đó là Tháp tuởng nhớ Ngài Anan, vị đệ tử đệ nhất đa văn của Đức Thế Tôn. Không chỉ đa văn, Ngài còn là vị đệ tử đa cảm và tốt bụng. Chính vì đa cảm nên Ngài mới đồng cảm với những giọt nuớc mắt đau khổ của Lệnh bà Kiều Đàm Di và 500 cung phi mong được xuất gia và khẩn cầu Đức Thế Tôn cho phép họ gia nhập giáo đòan. Không chỉ có Ni giới biết ơn Ngài mà ngay cả giới đệ tử hậu thế chúng ta cũng thật biết ơn Ngài. Nếu không có tài ghi nhớ đặc biệt và sự cố gắng của Ngài thì chắc gì chúng ta đã có được kho Kinh sách quý báu đầy đủ và phong phú như ngày nay. Ngài đã cần mẫn cất, nhặt từng lời Pháp Nhũ quý báu của Đức Phật cho hậu thế. Cũng tại Tỳ Xá Li này, Ngài Anan đã thành đạo, đã vượt thóat được sinh tử, đã ngộ nhập được Chân Lý mà Ngài đi tìm suốt mấy chục năm tu tập. Có lẽ vì lòng biết ơn lớn lao đó nên Bảo Tháp của Ngài luôn tấp nập nguời đến đảnh lễ. Nơi đây tấp nập nhất trong số các di tích không phải là bốn tứ động tâm trên đất Ấn Độ này. Bên cạnh Bảo Tháp của Ngài Anan, Vua A Dục đã cho dựng lên một cây cột đá đề tuởng niệm. Trên các cây cột đá ở các nơi khác, vua A Dục cho làm hình bốn con sư tử đang ngồi nhìn ra bốn phía để tuợng trưng cho sự truyền bá của Phật Pháp đi về khắp bốn phương, riêng cây cột đá bên cạnh Tháp của Ngài Anan chỉ có một con sư tử đang ngồi đơn độc. Tại thành Tỳ Xá Li này Đức Phật đã tuyên bố Ngài sẽ nhập Niết Bàn ba tháng sau đó, rồi Người lên đường đi Câu Thi Na để nhập diệt. Chính vì thế mà con sư tử đơn độc đã ngồi đó dõi theo bóng Đức Phật đi mà trầm ngâm đau khổ. Từ cổng khuôn viên nhìn về hướng bảo Tháp, chúng ta sẽ nhìn thấy chú sư tử dường như cố vươn lên, nhô đầu lên khỏi đỉnh Tháp, thật nhỏ bé và cô đơn đang dõi theo ai đó ở xa xa. Càng nhìn lên chú sư tử, nguời ta càng cảm thấy sự sầu khổ của chú. Có lẽ các đệ tử của Đức Thế Tôn cũng đã buồn bã như thế khi nghe tin Ngài sẽ nhập diệt. Nỗi sầu khổ duờng như đã truyền qua 300 năm đến tận thời vua A Dục khi cho làm chiếc cột đá này, đã truyền đi hơn 2500 năm đến tận hôm nay khi chúng ta nhìn lên chú sư tử đơn độc trên cột đá.

Không xa Tháp Anan, các ni sư Việt Nam đã xây dựng nên một ni viện mang tên Kiều Đàm Di để tưởng nhớ nơi đầu tiên nữ chúng đuợc phép xuất gia. Khu Ni viện rất rộng rãi khang trang, nổi bật lên đẹp đẽ giữa một vùng đất trống trải xung quanh. Chúng tôi không có dịp dừng lại để ngắm nhìn và vào đảnh lễ bên trong nhưng trong lòng thật xúc động vì sự hiện diện của một ngôi tự viện của nguời Việt ngay trên mảnh đất khởi nguồn của Phật giáo này.

Nhiễu quanh Tháp Ngài A Nan

Tháp thờ Ngài A Nan

4. Bồ Đề Đạo Tràng- Bodhgaya- Trở về với thực tại vi diệu trên mỗi bước chân

Tứ động tâm đầu tiên chúng tôi đến chiêm bái trong chuyến hành huơng này là Bồ Đề Đạo Tràng. Đây là Thánh địa đẹp đẽ và bề thế nhất trong tất cả các Thánh tích của Phật giáo ở Ấn Độ. Nơi đây Đức Thế Tôn đã tìm ra Đạo giải thóat cho muôn lòai, nơi đây một vị Phật đã thành Đạo , nơi đây ánh sáng của đạo Giác Ngộ đã bắt đầu tỏa sáng, nơi đây chúng sinh tụ hội về đảnh lễ để ghi dấu một sự kiện thật đặc biệt: Ngày bắt đầu của kỷ nguyên có Chánh Pháp.
Bồ Đề Đạo Tràng là một quần thể các bảo tháp được xây dựng xung quanh cây Bồ đề, nơi Đức Phật đã ngồi thiền 49 ngày và đã tìm ra con đường để vuợt thóat sinh tử. Bồ Đề Đạo Tràng nằm ở phía nam Thành phố Gaya thuộc bang Bihar ngày nay.

Tháp Đại Giác

Bồ Đề Đạo Tràng bắt đầu được xây dựng vào khoảng 300 năm trước công nguyên, với diện tích 30,000 mét vuông, bao gồm nhiều thánh tích Phật giáo quan trọng như Tháp Đại Giác, cây Bồ Đề, Tháp Kim Cương, bảy địa điểm Đức Phật đã ngồi suy tưởng trong bảy tuần đầu sau khi thành đạo và quần thể các tòa tháp cổ.

Tháp Đại Giác (Mahabodhi) là Bảo Tháp quan trọng nhất, cao nhất trong khu vực Bồ Đề Đạo Tràng, được xây dựng ngay duới gốc cây Bồ đề mà Đức Thế Tôn đã ngồi. Tháp nằm giữa khu đất trũng thấp hơn mặt đường khoảng mười mét vì vậy từ xa ta đã thấy được ngọn tháp đứng sừng sững vươn lên giữa những cây cổ thụ, tượng trưng cho sự Giác Ngộ của Đức Phật, như đóa hoa sen vươn lên thoát khỏi bùn nhơ. Một tòa tháp được Vua A-Dục xây dựng vào khoảng 250 năm truớc công nguyên để tưởng niệm nơi thành đạo của Đức Phật Thích Ca. Tháp này đã bị phá hủy. Tòa Tháp chúng ta nhìn thấy ngày nay được xây dựng vào khỏang thế kỷ thứ 2 truớc công nguyên, và được trùng tu lại nhiều lần.

Tháp Đại Giác được kiến trúc theo hình kim tự tháp, dài 15 mét, rộng 15 mét, cao 52 mét, vuông bốn cạnh và nhọn dần lên đỉnh, được thiết kế một cách cân đối trên mọi góc cạnh, ở bốn góc có bốn ngọn tháp nhỏ, xung quanh được trang trí nhiều loại hoa văn, trong mỗi hốc tường từ chân tháp lên đến đỉnh đều có tôn trí tượng Đức Bổn Sư và chư vị Bồ Tát, đặc biệt là tượng Bồ Tát Quán Thế Âm được xem là một bức tuợng linh thiêng. Bảo tháp đã từng được trùng tu lại vào khoảng thế kỷ thứ 7, nhưng đến thế kỷ thứ 12, Tháp đã bị quân Hồi giáo phá hủy, đến khoảng thế kỷ thứ 14, các vua Miến Điện cho trùng tu lại bảo tháp. Thế nhưng sau này do thiên tai và lũ lụt, Bồ Đề Đạo Tràng đã bị hư họai và rơi vào quên lãng còn tháp Đại Giác dần trở nên hoang phế. Mãi đến năm 1811, một nhà khảo cổ học nổi tiếng người Anh là Buchanan Hamilton đã phát hiện ra Bồ Đề Đạo Tràng với tháp Đại Giác trong tình trạng đổ nát. Năm 1875, vua của Miến Điện đã can thiệp và xin phép chính phủ Ấn Độ cho trùng tu lại ngôi Bảo Tháp, đưa Bảo Tháp trở lại hình dạng như chúng ta thấy ngày nay. Trong tháp an trí Tôn tượng Phật lớn mạ vàng thật sống động và an nhiên, ở ngay vị trí mà Đức Phật đã thiền định, hướng mặt về phía Đông và quay lưng lại với cây Bồ Đề. Đến nay, bức tượng này đã được khoảng 1700 tuổi.

Cây Bồ Đề (Bodhi tree) hay còn được gọi là cây "asvatthi là cây biểu tượng cho trí tuệ và sự giác ngộ của Đức Phật. Ngay từ thủa sơ khai của lịch sử, cây Bồ Đề được người Ấn Độ vô cùng kính ngưỡng, họ coi đây là một loài cây linh thiêng, là nơi trú ngụ của các vị thần. Sự kính ngưỡng này càng lên cao khi Cây Bồ Đề được hợp nhất với sự chứng ngộ vĩ đại nhất của Đức Phật, sự Giác ngộ chân lý. Sự tôn kính cây Bồ Đề không chỉ tồn tại trong dân gian mà còn được quy định thành luật, bất cứ ai có hành động phá hủy hay làm hư hại Thánh địa cùng với cây Bồ Đề đều bị trừng trị một cách nghiêm minh.

Trước đây, khi Phật còn tại thế, Ngài cũng đã từng nói với A Nan rằng, cây Bồ Đề, nơi Ngài đạt Giác Ngộ là một trong bốn Thánh địa mà Phật tử nên đến chiêm ngưỡng và lễ lạy. Từ đó, cây Bồ Đề trở thành một trong những nơi thiêng liêng được thờ phụng như Đức Phật. Sau khi Đức Phật nhập diệt, vua A Dục đã hết lòng cung kính bảo vệ cây Bồ Đề. Đức vua đã sai con gái mình mang một nhánh chiết của cây Bồ Đề sang trồng tại thành phố cổ Anuradhapura của Tích Lan (Sri Lanka), và nhánh cây đó đã phát triển thành một cây xanh tốt, tồn tại khỏe mạnh cho đến ngày nay. Cây Bồ Đề mà Đức Phật đã ngồi thiền định tại Bồ Đề Đạo Tràng đã bị phá hủy. Thế nhưng lạ thay, sau khi bị phá hủy, một nhánh cây con mới mọc lên ngay tại gốc Bồ Đề cũ và phát triển mạnh mẽ nhưng rồi cây Bồ Đề con này cũng đã không còn nữa. Gốc cây Bồ Đề hiện nay đã được chiết từ cây Bồ Đề tại Tích Lan vào cuối thế kỷ thứ 19 và tồn tại cho đến ngày nay. Tính đến nay, gốc cây này đã được hơn 130 tuổi.

Cây Bồ Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng

Xung quanh Đại tháp có bảy vị trí mà Đức Thế Tôn đã ngồi suy tưởng về Chánh Pháp trong bảy tuần đầu tiên sau khi đạt Giác ngộ, chuẩn bị cho con đường hoằng Pháp của mình. Tuần đầu tiên sau khi Giác ngộ, Ngài vẫn ngồi thiền định ở vị trí cũ, thọ hưởng sự an lạc của giải thoát. Tuần thứ hai, Ngài kinh hành dưới cội cây Bồ Đề, quãng đường đi của Ngài nằm ở phía Bắc của tháp Đại Giác, mỗi bước chân ngài đi đều được nâng đỡ bằng đài hoa sen. Tuần thứ ba, Đức Phật đi tới tháp Kim Cương, nhìn về cây Bồ Đề không chớp mắt, bày tỏ lòng biết ơn cội cây đã che chở cho Ngài. Tuần thứ tư, Ngài tới ngôi đền nhỏ Ratanaghara và ngồi thiền định tại đó. Tuần thứ năm, Đức Phật ngồi thiền định dưới cây Ni-Câu-Đà (Ajapala Nigrodha), nơi nàng Sujata đã dâng cúng sữa tươi cho ngài. Tuần thứ sáu, Đức Phật tới bên bờ hồ Muchilinda nằm ở hướng nam của tháp Đại Giác. Khi đó trời mưa to, rắn chúa Muchilinda đã nổi lên và lấy thân che chở cho Ngài. Tuần lễ cuối cùng, tuần thứ bảy, Đức Phật đã ngồi dưới tàng cây Rajyatana. Sau bảy tuần suy tư, Đức Phật đã rời khỏi Bồ Đề Đạo Tràng, đi tới vườn Lộc Uyển để chuyển bánh xe Chánh Pháp.

Đến Bồ Đề Đạo Tràng, người sang cũng như kẻ hèn đều được đề nghị cởi bỏ giầy dép để bước những bước chân thật trên những con đường ở đây. Bao nhiêu năm qua những đôi bàn chân đã bị dấu trong những đôi dép, những đôi giầy đã không còn dịp tiếp xúc với những thực tại, không cảm nhận được thế giới xung quanh ta thật là vi diệu trên mỗi bước chân. Những bước đi đầu tiên ai cũng cảm thấy thật bỡ ngỡ, sợ sệt, duờng như mỗi bước đều chứa đựng những hiểm nguy. Tự nhiên tôi cảm nhận được cái Dũng vĩ đại của Đức Thế Tôn. Ngài sinh ra trong nhung lụa, đôi chân được đặt trong những đôi dép vàng, vậy mà Ngài đã từ bỏ tất cả để suốt đời chỉ đi trên đôi chân trần như thế, đi khắp mọi nẻo đường: đường gạch, đường đất, đường rừng, đường núi, chứ đâu chỉ có con đường lát đá đẹp đẽ như ở Bồ Đề Đạo Tràng này. Vậy mà chúng tôi mới cởi bỏ giầy dép có một đọan đường mà sao đã thấy lo âu.

Đi chân trần, chúng tôi mới biết thương những con đường biết mấy. Chỉ một hạt sạn nhỏ duới chân chúng tôi cũng thấy nhói đau, vậy mà bình thường chúng tôi vứt rác, đổ nuớc ra đường mà không cảm thấy con đường cũng nhói đau như thế. Thương nhất là những con vật nhỏ bé đi lại trên đường. Buổi tối những chúng sinh bé nhỏ từ đâu bay ra nằm la liệt trên đường. Chỉ thiếu cẩn thận một chút là chúng tôi sẽ giẫm phải chúng. Nếu bọc chân trong giầy dép, chúng ta sẽ không cảm thấy một sự sống đã bị thiệt mạng duới chân ta và sẽ thản nhiên dẫm đạp. Nhưng với những đôi chân trần đi trên đất, chúng tôi cảm thấy rất rõ những sự sống dưới chân mình, cảm thấy sự mong manh của chúng, cảm thấy chúng cần tình thương yêu của chúng ta biết bao nhiêu. Ba ngày tiếp xúc với cuộc sống trên từng bước chân, chúng tôi học được bao nhiêu điều thú vị đáng quý.

Có lẽ ở Bồ Đề Đạo Tràng không có lúc nào vắng người. Dù chúng tôi đến lúc 5 giờ sáng, hay 10 giờ đêm, thì ở đây vẫn luôn luôn đông đúc người qua lại. Từng đoàn người nối đuôi nhau tiến vào chánh điện đảnh lễ Phật, cùng dường hoa, tụng kinh, hay chỉ đơn giản là đứng im lặng ngắm nhìn dung nhan pho tượng Đức Thế Tôn tuyệt đẹp. Vị tăng sỹ lo khóac Y cho tượng Phật làm việc liên tục, bởi người ta dâng lên Đức Phật quá nhiều Y. Mỗi đoàn, mỗi nước cúng lên một kiểu Y khác nhau, mang nặng tính dân tộc của mình. Trong kiểu Y nào, Đức Phật trông vẫn rất oai nghi, từ bi và đẹp đẽ. Tuy rất đông, nhưng ở đây không bao giờ ồn ào. Ngay cả tiếng những bước chân cũng không nghe thấy. Chỉ có những tiếng tụng kinh trầm bổng cất lên bằng đủ thứ ngôn ngữ từ khắp mọi nơi thật là cảm động. Tuy chúng tôi không hiểu được mọi ngôn ngữ đang cất lên, nhưng chúng tôi có thể cảm nhận được bằng trái tim mình sự rung động của những người đang đọc tụng, cảm nhận được sự thành kính và biết ơn đối với Đức Thế Tôn đã vì mỗi chúng tôi mà kiên định đi tìm Chân Lý.

...Vô thượng, thậm thâm vi diệu Pháp
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì
Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa...

Phật Pháp cao siêu rất nhiệm mầu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe thấy, chuyên trì tụng
Nguyện hiểu Như Lai nghĩa thật sâu

Giữa không gian mà mỗi ngọn gió đều mang theo những âm thanh thành kính, chúng tôi chợt cảm nhận được sự vi diệu của Phật Pháp, cảm nhận được sự vi diệu được gặp Chánh Pháp, cảm thấy thật vi diệu được hiểu Chánh Pháp.

Tôn tượng Đức Bổn Sư trong tháp Đại Giác

5. Thành Vương Xá (Rajgir), núi Linh Thứu, đại học Nalanda- ngày xưa một thưở

Rời Bồ Đề Đạo Tràng, chúng tôi đi lên núi Linh Thứu, nơi có Tịnh thất của Đức Thế Tôn thưở nào. Núi Linh Thứu nằm ở phía nam thành Vương Xá, là một ngọn núi thoai thỏai, với những bậc thang được xây bằng đá và gạch rất chắc chắn và cẩn thận. Những bậc thang này do Quốc vuơng Tần Bà Sa La, vua nuớc Ma Kiệt Đà thủa truớc xây dựng để cúng duờng Đức Phật khi Ngài chọn địa điểm này để dựng am thất. Tuy nói là ngọn núi không cao, nhưng với những nguời dân thành thị ít khi đi bộ như chúng tôi, trèo được lên tới đỉnh cũng không phải là nhẹ nhàng, ai lên tới đỉnh cũng thở ra đằng tai. Thế mà ngày xưa Đức Phật đã đi lên đi xuống con đường này mỗi ngày. Người đã ở trên am thất này bẩy năm, như vậy là Đức Thế Tôn đã từng đi lên, đi xuống ngọn núi này không duới bốn ngàn lần không mệt mỏi. Cho đến những năm cuối đời, Người vẫn di chuyển lên đỉnh núi một mình, không cần ai giúp đỡ. Địa danh núi Linh Thứu đã đi vào kinh sách của Phật Giáo rất nhiều lần, gắn liền với những bộ Kinh Đại thừa quan trọng như Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Bát Niết bàn, Kinh Bát Nhã. Núi Linh Thứu quả là rất đẹp, đường đi lên đỉnh uốn mình quanh co giữa những bóng cây cổ thụ xanh mát, đi ngang qua những hang đá tự nhiên. Thời Đức Phật sống ở đây, tất cả các hang đá tự nhiên này đều được các Đại đệ tử của Ngài dùng làm am thất của họ. Trên đỉnh núi là một mỏm đá hình đầu của một chú chim đại bàng dường như đang dừng lại nghe ngóng điều gì, suy ngẫm điều gì mà mỏ há ra, đầu nghếch lên cao. Chú đã được chứng kiến, đã được nghe Phật thuyết Pháp nhiều lần, chắc chắn chú có nhiều điều để suy tư lắm. Trên đỉnh núi là nền nhà am thất của Phật và nơi Người giảng Pháp cho đại chúng. Chúng tôi đến đảnh lễ Phật và tụng kinh tại nơi mà xưa kia Nguời đã giảng Pháp. Khỏang không trên đỉnh núi rất khiêm nhường, chỉ chừng ba chục thuớc vuông, thế mà ngày xưa đã có lúc ở đây quy tụ về tới hơn hai ngàn vị khất sỹ, còn trong các Kinh điển đại thừa ghi nhận, mỗi khi Phật thuyết các Kinh quan trọng, ở đây hội tụ về Chư Thiên, Chư vị Bồ Tát trong cả tam thiên, đại thiên thế giới vẫn không thiếu chỗ. Hình dung cả quả núi được bao phủ bằng những bóng áo cà sa mầu vàng của các vị khất sỹ, ngồi tĩnh lặng lắng nghe Phật giảng Kinh thật là một cảnh tuợng uy nghi, hùng vĩ tuyệt vời. Có một lần nào đó như thế, Đức Thế Tôn đã không nói gì, chỉ từ từ đưa cành hoa sen lên thưởng thức trong nụ cuời vi tiếu, và Ngài Maha Ca Diếp đã đồng cảm với Nguời. Hai nụ cuời và một cành hoa đã trở thành vẻ đẹp bất tử từ đó với tên gọi Niêm hoa vi tiếu- Cầm hoa mỉm cuời. Sống thật trọn vẹn với từng giây phút hiện tại, chỉ đơn giản thế thôi mà chỉ có Ngài Maha Ca Diếp lĩnh hội được sự vi diệu của đóa sen mà Đức Phật đưa lên. Từ đỉnh núi nhìn xuống duới cảnh tượng thật thanh bình: thấp thóang giữa những tán lá mỏng là con đường quanh co, những bóng nguời nhỏ bé đang từ từ di chuyển lên xuống. Dứơi chân núi những ngôi nhà nhỏ xíu ẩn mình duới những lùm cây. Từ nơi đây, Đức Thế Tôn đã bao lần ngồi ngắm cảnh mặt trời xuống núi thật đẹp. Cách đỉnh núi không bao xa là hang động của Ngài Xá Lợi Phất. Hang rất cao và thóang mát, bởi truớc cửa hang không có gì che chắn cả. Hang của Ngài là hai tảng đá lớn dựa đầu vào nhau mà thành. Thế nhưng bên trong hang cũng có một khỏang lõm vào, vừa đủ để Ngài tránh nắng, tránh mưa. Phía duới một chút là am của Ngài Anan dấu mình sau phiến đá lớn. Vào buổi trưa nắng rát, ngồi trong am thất của Ngài thật là mát rượi. Một tảng đá che đầu, một tảng đá che gió, đời người sa môn khất sỹ thật là đơn giản biết bao. Ngồi xuống là nhà, đứng lên là thảnh thơi, không một chút vướng bận.

Nơi đây hơn 2500 năm về trước, Đức Phật đã giảng nhiều Kinh Đại Thừa quan trọng

Trước cửa am thất của Ngài Anan, chúng tôi đã được nghe Thầy Thông Trí giảng cho phần dẫn nhập của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Thật là tiếc, chúng tôi có ít thời gian quá, nên không được  nghe giảng hết cả bộ Kinh vi diệu này, chính ở nơi Đức Phật đã tuyên thuyết. Cũng như thật là tiếc chúng tôi đã không có cơ hội được một lần ngắm cảnh mặt trời lặn huy hòang từ nơi đây như Đức Thế Tôn đã từng ngắm.

Ngồi dọc theo các bậc thang lên xuống suốt theo con đường từ chân núi lên đến đỉnh là hàng trăm nguời hành khất. Suốt từ hôm đến Ấn Độ, chúng tôi đã nhìn thấy rất nhiều người hành khất như thế ở khắp mọi nơi. Chúng tôi thật thương họ, muốn chia xẻ một chút tiện nghi của mình cho họ, nhưng hóa ra mọi việc không đơn giản như chúng tôi nghĩ. Ở đây không phải chỉ có một vài người cần giúp đỡ mà là hàng triệu, hàng trăm triệu người cần giúp đỡ. Chúng tôi cho một người thì hàng trăm người khác chạy lại xin, đòi, thậm chí là giật lấy những gì chúng tôi định cho và không định cho, nên rồi chúng tôi lại không dám cho nữa. Riêng ở núi Linh Thứu này, những người ăn xin rất hiền hòa, cho thì nhận, không cho cũng không bao vây và uy hiếp người cho như ở những nơi khác, nên chúng tôi có thể an tâm mà chia xẻ lòng yêu thương của mình với họ. Một dòng người được nhận thật là vui vẻ, và một dòng người được cho cũng thật là hoan hỉ biết bao. Thật là tiếc, Đức Phật đã để lại cho dân chúng những nơi Ngài đi qua cả một gia tài khổng lồ, chỉ cần mở lòng ra và đón nhận, vậy mà họ đã không thể mở lòng, đã để cho ba thứ độc: tham, sân, si trong lòng họ che kín mọi cửa vào, nên bao nhiêu gia tài đành đứng bên ngòai mà tự than vãn không thể giúp gì được họ, cũng như chúng tôi thương tiếc không thể giúp gì cho họ được.

Có biết bao địa danh xưa kia đã từng nổi tiếng nay chỉ còn để lại những dấu tích mong manh. Thành Vương Xá sầm uất thủa xưa, giờ chỉ còn lại một vài móng nhà giữa một rừng cây um tùm bên đường. Bệnh viện và vườn xòai rộng lớn của bác sỹ Kỳ Bà thủa nào, nay cũng chỉ còn lại một đường móng gạch sát đất. Nhà tù nơi Vua A Xà Thế giam giữ cha là vua Tần Bà Sa La đến chết giờ cũng chỉ còn là một nền đất đầy cỏ mọc, nhưng từ đó chúng ta vẫn có thể nhìn thấy đỉnh núi Linh Thứu ở xa xa. Nhà tù không còn, mà ngay cả kinh đô của họ và vương quốc của họ cũng không còn nữa, nhưng tấm lòng kính nguỡng của vua Tần bà Sa La đối với Đức Phật, cho đến lúc chết, vua cũng vẫn quay đầu về núi Thứu để băng hà thì vẫn sống trong lòng những người con Phật.

Nền nhà tù, nơi giam giữ vua Tần Bà Sa La

Từ núi Linh Thứu chúng tôi đi đến thăm nền móng của trường đại học Nalanda, trường đại học Phật giáo quốc tế đầu tiên trên thế giới. Có những công trình khi bị phá hủy chỉ là mất đi một ngôi nhà, có những công trình mất đi là mất cả bộ mặt một thành phố, có những công trình mất đi là sự mất mát, thiệt thòi của nhiều thế hệ. Sự tàn phá trường đại học Nalanda là một mất mát lớn lao như vậy.

Nalanda nằm cách Vương Xá khoảng 12km. Nơi đây suốt từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 12 không chỉ là trường đại học Phật giáo quốc tế đầu tiên mà còn là một trung tâm văn hóa và học thuật nổi tiếng thế giới lúc bấy giờ. Tên tuổi của Nalanda gắn liền với những tên tuổi các vị Cao Tăng hàng đầu của Phật giáo Thế giới như Ngài Long Thọ, Ngài Vô Trước, Ngài Thế Thân, Ngài Trần Na, Ngài Giới Hiền, Ngài Huyền Trang, Ngài Liên Hoa Sanhvà nhiều tên tuổi khác nữa. Nalanda không phải là một tứ động tâm, nhưng chính nhờ công cuộc giáo dục, hoằng pháp bền bỉ trong nhiều thế kỷ của Nalanda mà số người phát lòng kính quý tứ động tâm, hiểu được giá trị của tứ động tâm trên toàn thế giới tăng lên rất nhiều. Hòang đế A Dục (Asoka), vào thời gian khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, đã cho xây ở đây một tu viện lớn bên cạnh bảo tháp của hai Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Dần dần xung quanh tu viện này người ta đã dựng lên nhiều tịnh xá và tu viện khác nữa tạo thành một quần thể rộng lớn. Thế nhưng tên tuổi của Nalanda chỉ bắt đầu nổi tiếng khi trung tâm này trở thành trường đại học Phật giáo vào thế kỷ thứ 5. Khi Ngài Huyền Trang qua du học Ấn Độ vào thế kỷ thứ 7, Nalada đã trở thành một trường Đại học Phật giáo quốc tế, thu hút hàng nghìn nhà bác học và sinh viên đến từ nhiều nước xa xôi như Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Tây Tạng, Việt Nam, Indonesia, v.v Cùng một lúc ở đây theo học tới 10 ngàn sinh viên và 2000 vị giáo sư. Mặc dù ở đây có một số lượng sinh viên và giáo sư rất lớn, nhưng việc tuyển chọn vào đây tu học rất khắt khe . Việc giảng dậy và học ở đây rất nghiêm túc, như Ngài Huyền Trang ghi lại: : Số Tăng sĩ đông đến vài ngàn đều là những bậc tài năng xuất chúng. Những bậc này phần nhiều là những vị kỳ tài, danh tiếng vang đến cả nước ngoài. Ðức hạnh của những vị này hoàn toàn thanh tịnh, không thể chê trách gì. Họ theo giới luật một cách chơn thành. Qui luật của tu viện rất nghiêm khắc và tất cả Tăng sĩ đều phải tuân theo. Cả nước Ấn Ðộ đều kính phục và tuân theo những lời chỉ dạy của những vị này. Danh tiếng của Nalanda đã trở thành huyền thoại, vượt qua cả biên giới không gian đương thời, và biên giới thời gian để vang vọng đến tận hôm nay. Chính nhờ huyền thoại này, năm 2006 một loạt các quốc gia Phật giáo như Ấn Độ, Nhật bản, Trung Quốc, Thái Lan và Singapore đã có sáng kiến mở lại trường đại học Nalanda ở thành phố Vương Xá. Ngày 1-9 năm 2014 hai lớp học đầu tiên của trường đại học Nalanda đã bắt đầu hoạt động sau 800 năm bị buộc phải đóng cửa.

Nguồn gốc danh xưng Nalanda được giải thích theo các cách khác nhau. Theo Tiến sĩ Hiranand Shastri, từ Nalanda xuất phát từ hai từ Sanskrit là nalan và da. Nalan có nghĩa là cuống hoa sen là biểu tượng của trí tuệ, và da có nghĩa là người trao. Gộp hai từ lại có nghĩa là người trao trí tuệ. Còn theo ngài Huyền Trang thì trước đây nơi này có một hồ nước và có một con rồng (naga) tên là Nalanda sống, nên về sau ngôi tự viện được xây dựng ở đây đã được đặt theo tên con rồng này. Nalanda bị hủy diệt vào năm 1193, khi những người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ đánh phá nơi này. Họ đã đốt phá trường học, chùa viện và giết các Tăng sĩ ở đây. Thư viện đồ sộ của trường Nalanda có tới 9 triệu đầu sách quý bao gồm sách của tất cả các nền văn hóa khác nhau quý giá như một kho báu vật, vậy mà đã bị đốt toàn bộ. Trung tâm Nalanda bị phá hủy cũng đồng thời với thời kỳ suy tàn của Phật giáo ở Ấn Độ. Từ năm 1915 đến năm 1982 (từ năm 1915 đến năm 1937, và sau đó từ 1974-1982), Hội Khảo cổ học Ấn Độ (Archaeological Survey of India) đã chỉ đạo việc khai quật lại khu di tích Nalanda. Nhiều nền chùa tháp được tìm thấy, nhiều di tích liên quan được phát hiện. Toàn bộ khu vực Nalanda ngày nay rộng khoảng 14 hecta. Tuy đã được khai quật trên một diện tích rộng, nhưng nếu dựa theo ký sự của ngài Huyền Trang thì những gì tìm được chỉ là một phần nhỏ so với tổng thể của Nalanda xưa. Dù chỉ còn lại những nền gạch, nhưng đến đây ta vẫn thấy được quy mô vô cùng rộng lớn, vĩ đại của Đại học Nalanda xưa kia. Nổi bật nhất trong số những gì khai quật được là tháp thờ Tôn giả Xá Lợi Phất bề thế và cao lớn. Khi những công trình cao đến 9 tầng khác ở đây đã bị phá hủy đến tận móng, mà Bảo Tháp của Ngài Xá Lợi Phất vẫn còn uy nghi như vậy thì đủ để thấy là công trình này ngày xưa to đẹp và vững chãi đến mức nào.

Na Lan Đà

6. Vườn Lộc Uyển (Sarnath)- Nơi bánh xe Chánh Pháp bắt đầu quay

Từ thành Vương Xá, chúng tôi vượt qua một chặng đường hơn 380 km để đến thành phố Ba La Nại (Varanasi). Đây là nơi có vườn Lộc Uyển với bảo tháp Chuyển Pháp Luân (Dhamekh stupa) đánh dấu nơi Phật lần đầu tiên chuyển bánh xe Chánh Pháp, thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân cho năm anh em ông Kiều Trần Như (Koddañña).

Thành phố Varanasi ngày xưa tên là Benares, nên thời của Đức Phật đã được gọi là thành phố Ba la nại. Thành phố đã tồn tại liên tục trên 4 ngàn năm qua với những đền đài Ấn giáo nguy nga và đồ sộ. Đối với Phật giáo, nó cũng là một địa danh hết sức thiêng liêng vì ở đây có một thánh tích quan trọng: Vườn Lộc Uyển, nơi bánh xe Chánh Pháp bắt đầu quay và ba ngôi Tam Bảo được tạo dựng đầy đủ.

Trước khi đến vườn Lộc Uyển, chúng tôi ghé thăm tháp Hạnh Ngộ (tháp Chaukhandi ) nơi Đức Thế Tôn gặp lại năm người bạn cùng tu khổ hạnh trước khi Ngài thành Đạo. Tháp Hạnh Ngộ là một trong những tháp quan trọng của Phật giáo ở khu vực vườn Lộc Uyển. Tháp được xây trong khoảng từ thế kỷ thứ 4 đến thứ 6, bằng gạch. Người ta rất dễ nhận ra tháp này bởi hình dáng hết sức đặc biệt của nó. Vua Akbar đã xây trên đỉnh tháp một vọng lầu hai tầng, hình bát giác. Dù vọng lầu này không liên quan gì tới lịch sử của ngôi tháp cổ phía dưới, nhưng nó tạo cho khu di tích vẻ ngoài đặc biệt dễ nhận biết.

Tháp Hạnh ngộ

Khác với tháp Hạnh Ngộ, nằm đơn độc trên một ngọn đồi cao và bị bao bọc sau một bức tường, vườn Lộc Uyển là một khu vườn rộng lớn với nhiều cây xanh và bụi hoa xinh xắn và xanh tươi. Phần lớn khu di tích chỉ là những gì còn sót lại của những nền tịnh xá, bảo tháp đã bị phá hủy. Công trình duy nhất còn lại khá đầy đủ, rõ nét là Tháp Chuyển Pháp Luân. Thế nhưng chỉ bấy nhiêu thôi cũng làm chúng tôi thật hạnh phúc khi được đến đây rồi.

Sau khi gặp năm người bạn đồng tu tại Tháp Hạnh Ngộ, Đức Phật đã dẫn họ tới một nơi gần đó và thuyết pháp. Nơi Đức Phật thuyết pháp đã được vua A Dục ghi dấu bằng tháp Chuyển Pháp Luân (Dhamekh). Tên của bảo tháp bắt nguồn từ chữ Phạn Dharmachakra (bánh xe Pháp). Bảo Tháp này được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên và đã được trùng tu lại nhiều lần. Tháp có hình dáng như chúng ta thấy ngày nay được xây vào năm 500 sau công nguyên.

Tháp Chuyển Pháp Luân là một ngôi tháp hình tròn, cao 44m, đường kính 27m nhỏ dần về đỉnh tháp. Ngôi tháp được dựng trên một bệ đá, phần thân tháp bằng gạch nung, có lẽ nó là ngôi Tháp cổ duy nhất còn giữ được nhiều hoa văn chạm trổ tinh tế trên tường tháp.

Nhiễu quanh Tháp Chuyển Pháp Luân

Đoàn chúng tôi đã có cơ hội ngồi trước bảo tháp này, tụng đọc những lời khai thị của Đức Thế Tôn khi xưa. Ngày xưa, khi nghe những lời khai thị về Tứ Diệu Đế, Thầy Kiều Trần Như đã như bừng tỉnh và sụp xuống lạy xin Đức Phật nhận Thầy là đệ tử xuất gia đầu tiên của Người. Kể từ đó đến nay, bánh xe Chánh Pháp đã không ngừng chuyển xoay hơn 2500 năm, biết bao người đã quỳ xuống xin làm đệ tử của Đức Phật, biết bao nhiêu đệ tử của Người đã bừng tỉnh, nhận ra Chân Lý nhờ giáo lý vi diệu này. Dòng sông những âm thanh của Chánh Pháp mà Đức Thế Tôn đã khơi nguồn từ đây đã tỏa đi khắp muôn nơi, vang lên bằng đủ các thứ tiếng trên thế giới. Để lòng thật nhẹ nhàng, tan hòa trong dòng sông những âm thanh vi diệu ở nơi khởi nguồn của nó, chúng tôi cảm nhận được một điều gì đó thật ngọt ngào và trong trẻo trong trái tim mình.

Tụng Kinh Chuyển Pháp Luân

Gần đó, tháp Xá lợi (Dharmarajika) chỉ còn là một phế tích với nền tháp hình tròn, có đường kính khoảng 18m. Tháp Dharmarajika, được vua A Dục dựng để thờ xá lợi Phật, ngày xưa cao 30m với một lan can bằng đá. Tháp đã bị phá hủy năm 1794 để lấy vật liệu xây dựng một ngôi chợ ở Jagatganj. Trong lúc triệt hạ ngôi tháp, người ta tìm được xá lợi Phật đựng trong một hộp thánh tích bằng cẩm thạch và phần xá lợi này đã được đem thả xuống sông Hằng.

Một trong những công trình nổi bật trong khu di tích Lộc Uyển là ngôi chùa cổ Mulagandha kuti- Tịnh xá Hương Thất, là ngôi chùa đã được dựng trên nền am thất nơi Đức Phật an trú mùa an cư đầu tiên khi Người thành đạo. Ngôi chùa chỉ còn là một phế tích với những bức tường cao khoảng 5m, dày 2m, được trang trí với những hoa văn thời Gupta.
Trong khu thánh tích, nằm dưới một mái che nhỏ là những gì còn lại của trụ đá mà vua A Dục đã dựng để ghi dấu nơi Đức Phật Chuyển Pháp Luân. Trụ đá đã bị gãy làm nhiều đoạn, các nhà khảo cổ cho rằng cột trụ nguyên thủy có chiều cao 15,25 m, phần đỉnh cột được trang trí bằng bốn con sư tử bằng đá rất tinh vi. Đức Phật sinh ra trong dòng họ Gautama- Cồ Đàm có nghĩa là sư tử, nên bốn con sư tử trên trụ đá là để biểu tượng cho sự truyền giảng giáo lý của Đức Phật đi khắp mọi nơi.

Tháng 1-1950, Chính phủ Ấn Độ đã chọn phần đỉnh cột này làm quốc huy. Trong số những trụ đá mà vua A Dục dựng lên ở các nơi thánh tích, người ta chỉ tìm thấy một đỉnh cột duy nhất còn khá nguyên vẹn. Phần đỉnh của trụ đá này hiện đang được lưu giữ tại Viện bảo tàng Khảo cổ Sarnath, cách khu thánh tích chỉ một con đường. Trong viện bảo tàng này, ngoài đỉnh cột đá huyền thoại, còn trưng bầy một bảo vật vô giá, đó là pho tượng Phật bằng đá tìm thấy khi khai quật một ngôi tháp cổ gần Tháp Chuyển Pháp Luân. Đây là bức tượng duy nhất tạc Đức Thế Tôn trong tư thế bắt ấn Chuyển Pháp Luân rất mềm mại và sống động.

Trong thành phố Ba La Nại hiện nay cũng có một ngôi chùa lấy tên là Tịnh Xá Hương Thất (Mulagandhakuti). Tịnh xá này do tổ chức Mahabodhi Society của Sri Lanka xây vào năm 1930 với những bức tranh tường tuyệt đẹp. Nơi đây có bức tượng Phật Chuyển Pháp Luân rất đẹp được làm phỏng theo bức tượng cổ tìm thấy trong khu vực Lộc Uyển, dưới bảo tọa có một viên xá lợi của Đức Phật được tôn trí tại đây, mỗi năm chùa chỉ mang ra một lần để mọi người chiêm bái và đảnh lễ. Bên cạnh đó, dưới cội cây Bồ đề, có tượng Đức Phật đang giảng pháp và năm anh em Kiều Trần Như ngồi chung quanh thật là thân mật, ấm cúng.

7. Ba La Nại- Ngắm bình minh trên sông Hằng

Sáng sớm, trước khi đi Câu Thi Na (Kushinagar), chúng tôi xuống thuyền đi đón bình minh trên sông Hằng, và làm lễ phóng sinh cho cá, vừa ngắm cảnh mặt trời mọc trên dòng sông đặc biệt này. Ba La Nại là thành phố của những đền đài, nó được coi là thành phố linh thiêng nhất đối với những người theo Ân độ giáo. Theo phong tục của đạo này, người ta tin rằng sông Hằng là dòng sông thánh, tắm rửa nước sông này người sống sẽ gột rửa được mọi tội lỗi còn người chết sẽ được siêu thoát. Chính vì vậy, những người theo Ấn Giáo tụ hội về Ba La Nại để xuống tắm ở bến sông vô cùng đông đúc. Ở Ấn Độ hiện nay có tới 80% dân chúng theo Ấn Giáo, nghĩa là có khỏang 800 triệu người coi việc được đến Ba la nại, tắm và uống nước sông Hằng là linh thiêng, nên không có gì đặc biệt khi mới sáng sớm, đường xuống bến sông Hằng đã đông kín người. Bao bọc xung quanh thành phố có 84 bến sông như vậy, mà tiếng Ấn Độ gọi là Ghat. Ghat, từ này có thể hiểu là những bậc thang dẫn đến bến sông (đôi khi rất hoành tráng, có đến hàng trăm bậc và dài rộng gần 50 mét), cũng có thể hiểu là nơi thiêng liêng để những tín đồ Hindu xuống tắm gội và xin nước thiêng từ nữ thần sông Hằng. Xưa kia, Ghat cũng là nơi để người ta hỏa táng và đem tro cốt của người chết rải xuống sông Hằng theo ước nguyện của họ.

Chúng tôi đã quen là đi trên đường ở Ấn Độ luôn luôn phải nhìn xuống đường chăm chú, bởi ở đây nguời và bò sống cùng nhau hòa thuận, nên ở bất cứ đâu cũng có thể là..chuồng bò. Thêm nữa ở đây nguời và rác cũng sống bên nhau rất bình đẳng, nên chỗ nào có người cũng có thể có rác, chỗ nào nguời sinh họat cũng có rác sinh họat hiện diện. Nhưng đi xuống bến sông Hằng đòi hỏi phải cẩn thận tối đa, vì những khỏang không an tòan để đặt chân không nhiều lắm, chỉ sơ sểnh một giây thôi thì sẽ phải trả giá ngay, nên đòan di chuyển rất thận trọng, từng buớc một đều phải cân nhắc. Càng gần bến sông, dòng người càng đông hơn, gần như là kề vai sát cánh bên nhau. Chúng tôi ra đến bến sông, trời vẫn còn mờ tối, nhưng mấy cây đèn lớn trên bờ sông khá mạnh, giúp chúng tôi có thể phân biệt được đuờng đi và nhận ra nhau. Chúng tôi cảm thấy hơi nóng từ mấy đám than hồng trên bến sông phả lên mặt vẫn còn nóng rát và hiểu rằng trước đó không bao lâu, đã có những giàn hỏa thiêu người quá cố vừa được đặt ở đây. Khắp nơi trên bến sông có những đống củi lớn. Có lẽ có nhiều người làm dịch vụ bán củi ngay trên bờ sông này để cung cấp cho các gia chủ cần đến chúng.

Con đò nhỏ từ từ đưa tất cả chúng tôi ra giữa sông, chúng tôi thắp lên những ngọn nến nhỏ để giữa một ngọn đèn hình hoa sen rất đẹp rồi từ từ thả nhẹ xuống dòng sông linh thiêng này. Chúng tôi không tin là nước sông này có thể gột rửa mọi tội lỗi của mình, nhưng chúng tôi tin lời của Đức Thế Tôn chỉ dậy, nếu chúng tôi thắp sáng lên ngọn đèn trí tuệ có sẵn trong mỗi người, thì chắc chắn bóng đêm của phiền não sẽ bị đẩy lùi như những ngọn nến đang tỏa sáng lung linh trên dòng sông.

Người Ấn Độ rất giỏi kinh doanh. Xung quanh thuyền chúng tôi có rất nhiều thuyền nhỏ ghé lại mời mua cá. Những chú cá còn rất nhỏ, chỉ bé bằng 1-2 ngón tay thôi, đang bơi lội vô tư trong các thùng. Chúng tôi mua rồi từ từ đổ từng thùng cá xuống sông, giải phóng cho những con cá đang bị cầm tù trong đó và thầm cầu nguyện để chúng đừng bị bắt lại nữa, mong sao không có chúng sinh nào phải chịu cảnh bị giam cầm mất tự do như thế và quan trọng nhất là mong sao mọi chúng sinh đều được thóat khỏi sự giam cầm của sinh tử.

Lễ phóng sinh trên sông Hằng

Cảnh tuợng trên bờ sông Hằng tấp nập như một ngày hội. Chỗ này nguời ta đang thành kính ngụp lặn trong dòng sông thiêng, chỗ kia nguời ta đang vừa cầu nguyện vừa nhúng từng buồng chuối, từng cây mía xuống sông cúng duờng. Phần đông dân chúng không tắm, không cúng duờng nhưng cũng đang đứng trang nghiêm chờ đợi một điều gì đó. Một lát sau tôi mới hiểu, họ đang chờ đón mặt trời lên. Ở một góc sông, một ngọn lửa bỗng bốc cao ngùn ngụt. Lại có một nguời nào đó đang được hỏa táng để gửi nắm tro tàn về với dòng nước thiêng. Xa xa, ở bên kia bờ sông, một áng mây đang dần ửng sắc hồng: những tia nắng đầu tiên của mặt trời đã ló ra. Hình như dòng sông trầm hẳn xuống, những tiếng ồn ào lắng hẳn lại, nhường chỗ cho những tiếng rì rầm. Dân Ấn Độ đang đọc kinh chào đón mặt trời lên. Đối với họ, được tắm trong nước sông Hằng, được ngắm mặt trời mọc trên dòng sông thánh là những điều thiêng liêng. Chúng tôi không cảm nhận được sự thiêng liêng như những người Ấn Giáo, nhưng chúng tôi cảm nhận được vẻ đẹp thật huy hòang của bình minh trên sống Hằng. Mặt trời vàng chín từ từ buớc lên cao, biến cả một dải sông thành mầu cam rực sáng, những tia nắng phản chiếu trên những đợt sóng nhấp nhô lung linh như hàng ngàn, hàng vạn cây nến nhỏ đang cháy sáng trên dòng sông. Những con thuyền như những chiếc là tre nhỏ bé đang trôi nhẹ trong dòng sông ánh sáng ấy. Cảnh tuợng thật là nên thơ.

Bình minh trên sông Hằng

8. Câu Thi Na (Kushinagar)- Con mắt của thế gian đã nhắm lại, con mắt của Chánh pháp hiền từ nhìn chúng sinh

Ngồi lên xe đi Câu Thi Na, chúng tôi đã thấy lòng mình trùng lại. Một cái gì đó buồn bã đã xuất hiện ở trong lòng. Đức Phật đã nhập diệt hơn 2500 năm trước, truớc cả khi chúng tôi ra đời, trước cả khi bố mẹ, ông bà chúng tôi ra đời, thế nhưng sao đi trên con đường đến Câu Thi Na, chúng tôi vẫn như cảm thấy chính mình đang đi cùng Đức Thế Tôn trên con đường Ngài đi về Câu Thi Na để nhập diệt.

Thánh tích Kushinagar tọa lạc tại thành Kushinagar hay được việt hóa là Câu Thi Na là một trong hai kinh đô của bộ tộc Mallas (Mạt La). Thời cổ tiểu quốc này được chia làm hai khu vực tự trị và đóng đô tại hai thị trấn riêng biệt là Kushinagar và Pàvà. Thành Câu Thi Na từ thời Đức Phật cho đến hàng chục thế kỉ về sau, vẫn là một nơi xa xôi, hẻo lánh, dân cư thưa thớt. Khi đức Phật quyết định về Câu Thi Na nhập Niết Bàn, tôn giả A Nan cảm thấy không được tương xứng với oai danh của Đức Thế Tôn nên Ngài liền bạch với Đức Phật rằng, tại sao Đức Thế Tôn không chọn các đô thị lớn mà Đức Thế Tôn đã từng du hoá và có nhiều đệ tử phú gia cúng dường lễ hoả thiêu và thân xá lợi của Ngài như Chiêm Bà (Campā), Vương xá (Rājagaha), Xá Vệ (Sāvatthī), Ba La Nại (Varanasi) .... Đức Phật từ chối và trả lời rằng, thuở quá khứ Câu Thi Na là kinh đô của Chuyển Luân Thánh Vương tên là Thiện Kiến, một trong những tiền thân của Ngài trong quá khứ, là một kinh đô hưng thịnh phú cường. Và cũng chính nơi đây Ngài đã xả báo thân đến bảy lần. Vì vậy, sự chọn lựa của Phật hoàn toàn phù hợp với sự quán sát bằng tuệ giác của Ngài. Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, kim thân của Ngài được hoả tang theo nghi thức tang lễ của một vị Chuyển Luân Thánh vương. Sau lễ hoả táng, để tránh sự xung đột tranh giành xá lợi của Đức Phật, bộ tộc Mạt La tại Kushinagar đã đồng ý chia xá lợi Ngài làm tám phần đều nhau cho tám vị quốc vương trong tám nước xây tháp cúng dường. Bộ tộc Mạt La cũng xây một bảo tháp tại nơi lễ Trà tỳ của Đức Phật để phụng thờ tro than lúc hoả táng còn lại.

Tỳ Xá Ly - Nơi phân chia xá lợi Phật

Đến với thánh tích Kushinagar, ngày nay, chúng ta sẽ được chiêm bái hai nơi thiêng liêng nhất: nơi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn (gồm tháp Niết-bàn, chùa Niết-bàn) và nơi diễn ra lễ Trà Tỳ kim thân của Đức Thế Tôn.

Chúng tôi đến Câu Thi Na vào lúc xế chiều, nhưng Tháp Trà Tỳ (Angrachaya Stupa) vẫn còn mở cửa nên chúng tôi vẫn kịp ghé vào đây đảnh lễ Đức Thế Tôn. Mặt trời đã ngả bóng, chỉ còn lại những tia nắng cuối cùng đang nghiêng xuống phía bên kia Bảo Tháp. Xung quanh khu vực này được trồng những thảm cỏ xanh, những cây cối và hoa kiểng rất đẹp. Nhưng không hiểu sao cỏ xung quanh Tháp trơ trụi không mọc xanh tốt như các nơi khác, những cây cọ xung quanh đây trầm ngâm như mặc niệm. Trong ánh chiều tà, cả không gian trông thật trang nghiêm, u buồn, thật đúng với tâm trạng của mỗi người chúng tôi. Chúng tôi thắp lên những ngọn nến lung linh, như những ngọn lửa nhỏ đã trà tỳ kim thân của Đức Thế Tôn bừng sáng ở đây hơn 2500 năm trước. Chẳng hiểu sao, nuớc mắt chúng tôi trào ra, như chính mình đang có mặt trong lễ Trà Tỳ. Cũng là một xác thân tứ đại, nên Đức Phật cũng chịu luật vô thường biến hoại như mọi pháp hữu vi có mặt trên cuộc đời. Vẫn biết thế nhưng chúng tôi vẫn thật buồn như đang phải tiễn biệt một người thật thân yêu đi xa.

Tại khuôn viên diễn ra lễ Trà tỳ của Đức Phật có một ngôi tháp thật lớn, hình dạng đặc biệt trông giống như một ngôi mộ cổ vĩ đại. Tháp có chiều cao khoảng hơn 8 mét, đường kính của tháp đến 34 mét. Niên đại của ngôi tháp chưa được xác định chính xác. Xung quanh bảo tháp Trà tỳ có nhiều tháp nhỏ và nền móng các tháp, tinh xá, tự viện hầu hết các tháp và tinh xá này được xây dựng từ thế kỉ thứ nhất trở về sau.

Đoàn hành hương làm lễ tại Tháp Trà Tỳ

Pháp sư Huyền Trang đã từng đến viếng nơi đây vào năm 627 Tây lịch đã miêu tả rất rõ ngôi tháp này trong tập sách Đại đường tây vực ký như sau: Về phía bắc của thành này, sau khi băng qua dòng sông Ajitavati (A-tỳ-ba-phạt-để), và đi khoảng hơn 300 bước, có một bảo tháp. Đây là nơi trà tỳ kim thân của Đức Như Lai. Đất chỗ này trộn lẫn giữa đất và than, có màu vàng đen. Bất cứ người nào với lòng chí thành nguyện cầu và tìm ở đây, chắc chắn sẽ tìm thấy một vài xá lợi của Đức Như Lai. Chúng tôi không tìm được viên Xá Lợi nào của Như Lai, nhưng thật là kỳ lạ, khi chúng tôi rời khỏi đây, một mặt trăng mồng 7, lơ lửng hiền từ như đôi mắt từ bi của Như Lai đang nhìn xuống chúng tôi từ ngay giữa đỉnh Tháp. Đôi mắt thế gian của Đức Phật đã nhắm lại ở nơi đây, nhưng đôi mắt của Chánh Pháp mà Nguời đã mở cho thế gian thì luôn hiện diện ở khắp mọi nơi, mọi lúc.

Vầng trăng trên Tháp Trà Tỳ

Sáng hôm sau, chúng tôi dậy thật sớm để ra thánh tích nơi Phật nhập Niết Bàn làm lễ. Trong khuôn viên này có hai địa danh quan trọng là Tháp Niết Bàn và Chùa Niết Bàn. Hai công trình này đứng sát bên nhau, nên nhìn từ cổng vào, chúng ta có cảm tưởng như đây là một tòa nhà, nhưng thực tế, hai tòa nhà này cách nhau một khỏang sân chừng 3 m. Ở đây người ta làm việc theo giờ mặt trời mọc. Chùa mở cửa khi mặt trời mọc và đóng cửa khi mặt trời lặn. Hôm đó mặt trời mọc vào lúc 6 giờ sáng, nên chúng tôi cũng dự tính có mặt ở đây vào lúc 6 giờ để có thể vào Chùa đầu tiên. Mặc dù dự tính như thế, nhưng khi chúng tôi đến khuôn viên nơi có Chùa Niết Bàn thì đã có rất nhiều đòan khác nữa cũng đã có mặt ở đây. Có lẽ đòan nào cũng muốn hiện diện thật sớm bên Đức Thế Tôn, để có thể ở bên Nguời trong một không gian trầm lặng, riêng tư.

Ngôi tháp Niết Bàn to lớn mà chúng ta thấy hiện nay có chiều cao khoảng 45 mét, đường kính khoảng 10 mét. Đây là một ngôi tháp có màu trắng, xây kín xung quanh, không có cửa ra vào. Tháp được xây trên một nền gạch cao khoảng 2,7 mét, hình tròn trụ, với mái hình vòm tròn, phía trên vòm tròn ấy xây một khối hình trụ nhọn dần lên tận đỉnh, hình trụ ấy gồm ba tầng, cao khoảng 5,5 mét.

Các nhà khảo cổ cho rằng ngôi Tháp này được vua Asoka xây vào thế kỉ thứ 3 trước Tây lịch. Tháp Niết Bàn được xây tại thánh tích này để tôn thờ xá lợi của Đức Phật, đồng thời để kỉ niệm nơi Đức Phật đã xả bỏ báo thân sanh diệt, an trú vào Niết-bàn bất diệt. Gần mười thế kỉ trôi qua kể từ thời vua Asoka xây dựng, đến thế kỉ thứ bảy, Ngài Huyền Trang đến chiêm bái thánh tích này thì bảo tháp Niết Bàn vẫn còn và Ngài đã ghi chép trong cuốn kí sự của mình như sau: Về phía tây bắc của thành này khoảng ba đến bốn dặm, băng qua dòng sông Ajitavati (A-tỳ-ba-phạt-để), không xa về phía tây của bờ sông này, chúng ta đến một rừng cây Ta La. Cây Ta La giống như cây Huk, vỏ cây màu trắng xanh, lá cây lóng lánh và trơn dịu. Chổ này có bốn cây thật cao, đây là nơi Đức Như Lai đã nhập Niết-bàn, tại đây có tịnh xá bằng gạch rất lớn. Trong tịnh xá này có một tượng Đức Phật nhập Niết-bàn, Ngài nằm quay đầu về hướng bắc như đang ngủ. Bên cạnh tịnh xá này là bảo tháp do vua Asoka xây dựng, mặc dù đã hư sụp, nhưng cũng còn cao gần 60 mét. Phía trước tịnh xá là một trụ đá ghi chép về sự Niết-bàn của Đức Như Lai. Mặc dù các ghi chép vẫn còn, nhưng không thấy đề cập ngày, tháng hay năm

Vào những thế kỉ 12, 13, các thánh tích Phật giáo bị quân Hồi giáo đốt phá hoang tàn, nơi Đức Phật Niết-bàn cũng như bảo tháp Niết Bàn đã bị thiêu rụi và đập phá, trở thành những đống gạch đổ nát. Thánh tích Kushinagar nói chung và bảo tháp Niết Bàn nói riêng hầu như đã bị lãng quên không người nhắc đến. Gần 600 năm sau, vào thế kỉ 19, nhà khảo cổ học nổi tiếng người Anh là Cunningham, người có công lớn trong công cuộc khảo cổ và hồi phục lại các thánh tích Phật giáo để giới thiệu đến mọi người trên thế giới. Ông đã căn cứ vào cuốn Đại Đường Tây Vực Ký của Ngài Huyền Trang và tiến hành khảo cổ các thánh tích thiêng liêng của Phật giáo. Một công việc rất khó khăn và vất vả, ông đã huy động những người cộng sự của mình âm thầm làm việc giống như một vị Bồ-tát vô danh trong công cuộc đóng góp xây dựng vào sự phục sinh của Phật giáo tại Ấn Độ. Với sự giúp đỡ đắc lực của người phụ tá của ông, nhà khảo cổ Carllleyle, các di tích tại nơi Đức Phật nhập Niết-bàn gồm các nền tháp, chùa viện, tượng Phật đã được phát hiện và bảo vệ cẩn thận. Với sự phát hiện khám phá đầy ý nghĩa ấy, nền tháp Niết Bàn đã được xác định. Đến năm 1927, với sự đồng ý của chính phủ Ấn Độ, cộng đồng Phật tử Miến Điện đã phát tâm kiến tạo ngôi tháp Niết Bàn ngay trên nền móng cũ của bảo tháp do vua Asoka xây dựng ngày xưa. Gần 50 năm sau, vào năm 1972, các Phật tử Miến Điện lại phát tâm trùng tu bảo tháp này một lần nữa, và đây chính là bảo tháp Niết Bàn mà chúng ta thấy ngày nay.

Tháp Niết Bàn

Sát bên cạnh Tháp Niết Bàn là Chùa Niết Bàn, nơi đang tôn trí bức tuợng Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn linh thiêng. Ngôi chùa mà ta thấy ngày nay được xây lại trên nền tịnh xá Niết Bàn xưa kia vào năm 1956. Chùa Niết Bàn có một kiến trúc rất riêng so với các loại kiến trúc chùa tháp khác mà chúng ta từng thấy. Ngôi chùa cao khoảng 45 mét, nền móng phía duới hình chữ nhật, phần mái phía trên hình vòm cuốn, bốn phía được trang trí bằng bốn cửa xổ lớn hình tròn như bốn bông hoa sen lớn. Trước hành lang chùa có bốn trụ cột sơn màu đỏ rất lớn như những cánh hoa sen đang rủ xuống . Bên duới chân chùa có một hồ lớn, nên từ xa nhìn lại, ngôi chùa như một đóa hoa sen lớn đang vươn lên khỏi mặt nuớc. Một trong những bảo vật ý nghĩa nhất tại thánh tích này là tượng Đức Phật nhập Niết Bàn. Trong ngôi chùa Niết Bàn chỉ thờ duy nhất pho tượng này. Đây là một trong những kiệt tác về nghệ thuật tranh tượng Phật giáo vào thời đại Kumargupta (413-455), một triều đại đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật sáng tác tranh tượng Phật giáo. Trong triều đại này, có nhà điêu khắc Haribhada đã tạc pho tượng này từ một khối đá lớn mầu đen có tên là Chunar. Pho tượng có chiều dài khoảng 6 mét, được đặt trên một bệ đá hình chữ nhật cao khoảng nửa mét và tôn thờ trong chùa Niết Bàn. Tượng nằm nghiêng sang bên phải, đầu hướng về phương bắc và gối lên tay phải, mặt tượng hướng ra cửa chánh nam, tay trái đặt xuôi trên hông, hai chân song song chồng lên nhau, đúng như tư thế sư tử nằm đã được mô tả trong kinh điển. Pho tượng đã thể hiện đầy đủ các tướng hảo của một đấng Thế Tôn.

Lễ đắp y Đức Phật nhập Niết Bàn

Một điều đáng buồn là pho tượng đã bị đập gãy làm nhiều phần. Trong lúc khảo cổ khai quật từ đống gạch đổ nát của tháp và chùa Niết Bàn, Cunningham và các cộng sự của mình đã phát hiện pho tượng này vào năm 1876, đoàn khảo cổ của ông cũng phát hiện những bộ hài cốt phủ phục trên pho tượng này, đây rất có thể là những vị Tăng sĩ đã lấy thân mình bảo vệ thánh tượng, không cho những kẻ cuồng tín đập phá tôn tượng. Ngày nay, pho tượng đã được ráp lại và thờ đúng vị trí ngày xưa; dù bị đập gãy nhiều phần, nhưng thánh tượng đã được hồi phục lại và trở thành một trong những bảo vật thiêng liêng tại thánh tích Kushinagar.

Ngày nay bốn cây Ta La to lớn mà Ngài Huyền Trang mô tả đã không còn nữa, ngay cạnh cổng vào chùa, người ta trồng hai cây Ta La bên cạnh nhau để chúng ta có thể tuởng nhớ đến khung cảnh Đức Thế Tôn lúc Ngài nhập Niết Bàn.

Buớc vào chùa, nhìn thấy tôn tuợng của Đức Thế Tôn, cả nguời tôi rung động. Ngày xưa, khi đọc đến đọan Đức Phật nhập Niết Bàn, tôi đã khóc như mưa vì thương nhớ một nguời thân yêu nhất không còn nữa. Giờ đây thì tôi đã hiểu, Ngài chỉ rời bỏ tấm thân hiển lộ để hóa hiện vào mọi điều vi diệu xung quanh tôi, nhưng tôi vẫn khócnhư xưa, vì tôi thương tôi đã không có nhân duyên gặp Đức Thế Tôn. Khi chúng tôi bước ra sân, thật là kỳ lạ, đúng lúc mặt trời rực rỡ đang tỏa sáng ngay trên đỉnh Tháp Niết Bàn. Mặt trời vàng óng đang tỏa ra những tia sáng như một vầng hào quang bao phủ trên đỉnh Tháp. Hình ảnh đẹp đẽ này như nhắn nhủ với tôi rằng, kim thân của Thế Tôn không còn nữa, nhưng Giáo Pháp của Người vẫn còn đó, như vầng thái dương kia, vẫn luôn hiện diện, vẫn luôn sửơi ấm, vẫn luôn chiếu sáng cho tất cả chúng sinh.

Tôn tượng Đức Phật nhập Niết Bàn

9- Lâm Tỳ Ni (Lumbini) - Nơi hoa Vô ưu nở, một vị Thánh nhân ra đời

Nếu theo đúng trình tự thời gian, chúng tôi phải đến viếng thăm Lâm Tỳ Ni trước tiên, rồi mới đến Bồ Đề Đạo Tràng, vườn Lộc Uyển và cuối cùng là Câu Thi Na. Nhưng thật thú vị là chúng tôi đã đến Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Thế Tôn đản sanh cuối cùng trong bốn thánh tích. Sau khi ghé thăm Câu Thi Na, tâm trạng chúng tôi, không ít thì nhiều, đều chạnh lòng mang mác một nỗi buồn. Ở Câu Thi Na, trong bao nhiêu thế kỷ qua đã lắng đọng bao nhiêu nỗi buồn nhớ mà các đệ tử của Thế Tôn khi đến đây đã gửi lại, nên làm sao chúng tôi không trầm ngâm được. Nếu rời khỏi Câu Thi Na, chúng tôi chia tay nhau, mỗi người trở về trú xứ riêng của mình, thì nỗi buồn mang mác nhớ Đức Phật sẽ cộng hưởng với nỗi buồn chia tay các bạn đồng hành thế nào cũng thành một nỗi buồn thương mến lắm. May sao, rời khỏi Câu Thi Na chúng tôi lên đường đi Lâm Tỳ Ni, nơi hơn 2500 năm trước đã có lần hoa Vô ưu nở, báo tin vui có vị Thánh nhân ra đời. Nơi đây còn lưu giữ được những chứng tích lịch sử vô giá về sự kiện Đức Phật đã đản sanh ở đây.

Ba thánh tích của Phật giáo hiện nằm trên đất Ấn Độ, chỉ duy nhất có Lâm Tỳ Ni nằm trên đất của Nepal, cách biên giới Ấn Độ 36 km. Con đường đến Lâm Tỳ Ni tuy không quá gập nghềnh, nhưng lại rất hẹp, nhiều đoạn xe ô tô bus đi sát vào hàng hiên của các sạp bán hàng hai bên đường, tưởng như với tay là chạm vào các đồ mẫu treo trên quầy hàng, nên xe phải đi với tốc độ rất khiêm tốn. Thêm hơn hai giờ phải chờ đợi ở biên giới để làm thủ tục nhập cảnh, nên chúng tôi mất gần nửa ngày ở trên đường, về đến khách sạn ở Lâm Tỳ Ni đã hơn 10 giờ tối, trời đã tối đen.

Sáng sớm hôm sau chúng tôi khởi hành đi đến khu vực thánh tích. Lâm Tỳ Ni được quy hoạch khá nghiêm ngặt, xe ô tô dừng lại rất xa khu di tích, mọi người phải xuống xe đi bộ chừng 2 km mới vào đến khu tưởng niệm. Khi chúng tôi vừa xuống xe đã nhìn thấy cả một đội ngũ xe xích lô đứng đợi sẵn để chở du khách vào bên trong. Nhưng thực ra nếu có thời gian, được tản bộ trên con đường rợp mát bóng cây đưa ta đi vào bên trong thì sẽ thú vị hơn nhiều. Dọc trên đường đi, người ta đã xây lên khá nhiều quần thể tượng lấy từ tích Đức Phật đản sanh, ví dụ quần thể tượng Hoàng hậu Ma Da vừa hạ sanh Thái tử, đang nằm nghỉ, bên cạnh là tượng Thái tử đã đi 7 bước trên 7 bông hoa sen và đưa ra lời tiên tri bất hủ:

Thiên thượng địa hạ
Duy ngã độc tôn
Nhất thiết chúng sinh
Giai hữu Phật tính.
Nghĩa là:
Trên trời dưới đất
Chỉ có ta là duy nhất
Hết thảy chúng sinh
Đều có tính Phật.


Những bóng cây rợp mát, những đóa hoa đủ mầu sắc chen lẫn những hình ảnh quen thuộc từ trong kinh sách hiện ra, từ từ đưa ta trở về với thời kỳ xa xưa, lúc xảy ra sự kiện trọng đại.
Chắc chắn, nhiều thế kỷ sau khi Phật ra đời, và đặc biệt là sau khi Đạo Phật được truyền bá đi rộng rãi trên toàn cõi Ấn Độ, Lâm Tỳ Ni đã trở nên một trung tâm hành hương của những người con Phật, sầm uất, đông đúc. Thế nhưng cũng như những thánh tích khác, Lâm Tỳ Ni đã bị những người Hồi Giáo tàn phá và triệt hạ không thương tiếc cuối thế kỷ thứ 12 và rơi vào quên lãng trong nhiều thế kỷ.

Rất tình cờ và may mắn, ngày 1 tháng 12 năm 1896, hai nhà khảo cổ người Đức Alois A. Fuhrer và Khadga Samsher đã khai quật và phát hiện tại nơi đây một trụ đá có ghi khắc sắc lệnh của vua A Dục (Asoka), mới biết đây là Thánh địa, nơi đản sanh Đức Thế Tôn. Trụ đá được các nhà khảo cổ dựng lại ngay trên nền nguyên thuỷ, và công tác khai quật, trùng tu và bảo trì Lâm Tỳ Ni bắt đầu từ đấy.

Đền thờ Hoàng Hậu Maya

Cây cột đá ở đây không cao lớn, trảm trổ tinh vi hay trang hoàng cầu kỳ như ở những nơi khác. Trụ đá có độ cao khoảng từ 5 đến 6 mét, đường kính khoảng nửa mét, được bao quanh bởi hàng rào sắt rất đơn sơ, giản dị. Hiện vòng rào sắt cũng đã bị thời gian làm rỉ sét gần hết. Xung quanh hàng rào, các Phật tử thuộc các truyền thống khác nhau đã treo lên đây đủ loại cờ, hoa để cúng dường Đức Phật. Trên đầu cột trụ đá không có hình gì cả. Trên thân trụ có khắc 5 hàng cổ ngữ Brahmi và bên cạnh, phía bên dưới có tấm bia ghi bằng ba ngôn ngữ: Brahmi, Anh và Pali hay Ấn ngữ nhằm dịch lại nội dung những dòng cổ ngữ phía trên cột đá cho du khách hiểu. Nội dung của những dòng chữ trên chiếc trụ đá như sau:

Hoàng đế Piyadasina (A Dục), được các Thiên thần kính mến, sau khi lên ngôi 20 năm, Ngài đích thân đến đảnh lễ tại nơi này. Vì đây là nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh, Ngài truyền lịnh cho tạo nên một pho tượng lớn và dựng một trụ đá để ghi dấu đây là nơi đức Thế Tôn xuất thế. Nhà vua cũng miễn thuế nghi lễ cho dân làng Lâm Tỳ Ni và họ chỉ phải trả 1/8 lợi tức mà thôi.

Trụ đá này được làm khoảng năm 249 trước công nguyên. Tuy nó không cầu kỳ về mặt nghệ thuật, nhưng về mặt lịch sử nó là vô giá.Bởi nhờ có trụ đá này người ta biết được chính xác đây là thánh tích Lâm Tỳ Ni xưa kia. Hơn thế nữa, thế giới mới có được bằng chứng để tin Đức Phật là một nhân vật có thật chứ không phải một nhân vật huyền thoại.
Năm 1996, người ta đã tìm thêm được một di vật rất quan trọng đó là phiến đá cổ có hình một bàn chân nhỏ nằm dưới nền đền thờ Hoàng hậu Ma Da. Phiến đá này là do Vua A Dục khắc để ghi lại đúng vị trí mà Đức Phật đã đản sanh. Hiện nay, khi vào đền thờ hoàng hậu Ma Da, chúng ta sẽ được thấy một hộp kính che phủ lên phiến đá này. Chính nhờ phát hiện quan trọng này, năm 1997 UNESCO của Liên Hiêp Quốc đã công nhận đây là một di sản văn hóa thế giới, vì ở đây đã lưu giữ những bằng chứng lịch sử về sự ra đời của một vĩ nhân của nhân loại. Từ đó đến nay, việc trùng tu, tôn tạo khu di tích Lâm Tỳ Ni vẫn được tiếp tục. Cuối năm 2013 các nhà khảo cổ đã tìm thấy một bằng chứng nữa hết sức thú vị ở Lâm Tỳ Ni, đó là một công trình bằng gỗ cổ có niên đại 6 thế kỷ truớc công nguyên nằm ở ngay chính giữa đền thờ Hòang hậu Maya Devi. Ở giữa của công trình bằng gỗ này là dấu tích của một cái cây. Duờng như công trình này được dựng lên đề che chở cho chính cái cây này, và sau này tất cả các công trình bằng gạch khác được dựng lên đều bao bọc khu trung tâm này. Điều này gợi nhớ đến câu chuyện đản sinh của Đức Phật thân mẫu Ngài, Hoàng hậu Maya, đã hạ sinh Ngài khi với tay lên để hái một đóa hoa Vô ưu. Khám phá này đã làm sáng tỏ hòan tòan về nơi đản sanh của Đức Phật và năm sanh của Nguời. Và như vậy chúng ta có thể biết được rằng Lâm Tỳ Ni là thánh tích Phật giáo cổ xưa nhất trên thế giới. Nguời ta đi hành huơng đến đâu không phải sau khi vua A Dục đến đây đảnh lễ và đặt trụ đá, mà đã từ rất lâu trước đó rồi.

Khi chúng tôi đến chiêm bái Lâm Tỳ Ni, nơi đây đã được chăm sóc và tôn tạo đúng mức: những con đường được xây dựng và quýet dọn sạch sẽ, đội bảo vệ hiện diện ở các nơi để giữ gìn trật tự, những vuờn hoa đang trổ bông thơm ngát, những bãi cỏ xanh muợt. Xung quanh khu vực này, các quốc gia Phật giáo đã xây dựng nhiều ngôi chùa thật là đẹp đẽ thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau, nhưng đều giống nhau ở một điểm là đều tôn thờ Đức Phật.

10- Xá vệ thành (Savatthi)- vang mãi tiếng thơm của những vị bảo hộ Phật pháp

Xá Vệ, hay tiếng Ấn Độ là Savatthi ngày nay thuộc hai ngôi làng rộng lớn có tên ghép đôi là Sahet-Mahet nằm trên bờ sông Rapti trong phần đất biên giới giữa hai quận Gonda và Bahraich, tiểu bang Uttar Pradesh miền bắc Ấn Độ. Thời Đức Phật còn tại thế, đây là thủ đô của vương quốc Kiều Tát La (Kosala) dưới quyền trị vì của vua Pasenadi hay Ba Tư Nặc. Tại thành phố này có biết bao tên tuổi đã đi vào trong kinh điển Phật giáo, gắn bó với sự phát triển của Phật giáo trước đây: Tịch xá Kỳ Viên, Lộc mẫu đường, nền nhà Ngài Cấp Cô Độc, Tháp thờ Ngài Vô Não, cây Bồ đề Anan, nơi Phật thị hiện thần thông

Trong 45 mùa an cư kiết hạ của Đức Thế Tôn, Người đã an cư 25 năm ở Xá vệ. Chỉ một con số đó thôi cũng đủ biết thành phố này quan trọng như thế nào đối với Phật pháp. Sở dĩ Phật và giáo đòan lựa chọn Xá Vệ là nơi thuờng xuyên đến an cư, bởi ở đây đã có rất nhiều vị thí chủ hết lòng ủng hộ Phật Pháp. Nổi tiếng trong các nhà bảo trợ Phật pháp lúc bấy giờ là Ngài Cấp Cô Độc Tất Đạt Đa. Câu chuyện Ngài cúng duờng Tịnh Xá Kỳ Viên hay Kỳ thọ- Cấp cô độc viên đã thành huyền thọai đi vào lịch sử để nói lên tấm lòng quảng đại và hết lòng với Phật Pháp của Ngài. Những vị truởng giả có nhiều tiền thì đời nào cũng có rất nhiều, nhưng những vị truởng giả không nghĩ đến số tiền phải bỏ ra, để mua một khuôn viên đẹp nhất nuớc, xây dựng nên một khu Tịnh xá rộng rãi và tiện nghi nhất để cúng duờng cho Phật pháp thì thật là hiếm. Ngài Cấp Cô Độc không phải chỉ cúng duờng một chút tịnh tài của Ngài để mong cầu phước báu, Ngài đã mang cả trái tim và tâm hồn của Ngài để dâng lên giáo đòan của Phật, chính sự hết lòng đó của Ngài mới là điều thật đáng để hậu thế nể phục và học theo.

Trong 25 năm an cư ở Xá vệ, Đức Phật đã ở tại Kỳ Viên 19 năm. Khu vườn Kỳ Viên rất rộng, hiện nay, tại đây có khoảng 70 phế tích bao gồm nền gạch các ký túc xá của tu viện, tháp tưởng niệm các sư tổ, phòng của các đại sư. Sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, bao nhiêu sự tàn phá của thiên nhiên và ngọai đạo, vậy mà nền móng còn lại của các công trình này vẫn đủ cho ta thấy tầm vóc to lớn, đẹp đẽ ngày xưa của nó rồi. Đáng nói nhất đến trong các công trình ở Kỳ viên là Hương thất của Đức Thế Tôn. Người đã từng ở đây 19 mùa mưa, đã thuyết 844 bộ kinh quan trọng từ nơi này. Câu mở đầu quen thuộc trong nhiều bộ kinh: Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên như đâu đó đang vang lên ở chốn này làm lòng chúng tôi thật bồi hồi xúc động khi bước vào đây. Hương thất của Đức Phật giờ chỉ còn lại những bậc cầu thang và một nền móng với một bức tuờng lửng bao quanh, nhưng nhìn những hàng gạch xây ngay ngắn, cứng chắc, đều đặn chẳng hề bị thời gian làm cho mục rỗng thì cũng đủ hiểu là ngày xưa Ngài Cấp Cô Độc đã xây ngôi nhà này cúng duờng cho Phật thật cẩn thận, khang trang. Hôm chúng tôi đến đây, đòan Phật tử nào đó đến trước đã trải hoa cúng dường trên nền Tịnh thất của Phật rất công phu: những cánh hoa tầm xuân đỏ thắm được trải đều khắp cả nền nhà và trên bờ gạch, từ duới đất lên đến trên cao một cách rất cẩn thận. Bờ tường gạch nào cũng được phủ kín bằng những cánh hoa tầm xuân, xung quanh bờ hoa đó, những đóa hoa vạn thọ mầu vàng rực rỡ được xếp cách đều nhau, như một đường viền bằng vàng đóng khung một bức tranh hoa rực rỡ, trên nền bức tranh hoa đó, lại đôi chỗ điểm xuyết những cụm hoa súng mầu trắng, mầu hồng rất dịu dàng tạo nên một bức tranh thật là sống động và rực rỡ.

Hương thất ở Kỳ Viên, nơi Đức Phật từng giảng pháp

Đi sâu vào phía trong vườn chừng mấy trăm mét, cây bồ đề mà Ngài Anan trồng thủa nào vẫn còn xanh tốt, dù xung quanh cây, người ta đã phải dựng lên nhiều cột sắt để chống đỡ cho cây. Sở dĩ gọi cây Bồ đề Anan là vì Đức Phật luôn đi vân du thuyết pháp nhiều nơi, không phải chỉ ở Kỳ Viên này, do đó khi Ngài đi tới nơi khác để thuyết pháp thì chư Tăng và phật tử tại nơi này cảm thấy thương nhớ Đức Phật vô cùng mà không biết làm sao. Chính vì lí do đó mà ngài Anan mới thưa thỉnh với Đức Phật rằng:Nếu khi Thầy đi vắng chúng con thương nhớ đến Thầy thì chúng con lấy gì làm biểu tượng?, lúc bấy giờ, Đức Phật bảo rằng hãy lấy một cây Bồ đề làm biểu tượng cho Người hoặc sau khi Người nhập diệt thì hãy lấy xá lợi của Người làm biểu tượng. Đó chính là nguồn gốc của tên gọi của cây Bồ đề Anan. Theo truyền thuyết thì cây bồ đề này là do chính tay Tôn giả Mục Kiền Liên chiết nhánh từ cây bồ đề chính ở Bồ đề Đạo tràng (Bodhgaya), nơi Đức Phật thành đạo và mang về Kỳ Viên tịnh xá để Ngài Anan trồng tại khuôn viên này. Có một nguyên nhân nữa để cây bồ đề này trở thành linh thiêng là Đức Phật đã tọa thiền suốt một đêm dưới gốc cây này.

Chúng tôi đã được cùng nhau, ngồi dứới tán của cây bồ đề linh thiêng này, cùng tụng đọc kinh Di Đà, một bộ kinh nổi tiếng đã được Đức Phật thuyết ra trong khu tịnh xá này. Trong bao nhiêu thế kỷ, biết bao nhiêu người quy y với Phật ở khắp mọi nơi trên thế giời đã mơ uớc được đến đây, để lòng huớng về đây mà không có được cơ hội tận huởng giây phút đứng trong không gian này. Thế nên trong không gian yên tĩnh của khu vườn, tất cả cảnh vật được một tấm màn suơng trắng mỏng bao phủ, chúng tôi được cùng nhau đốt lên những cây đèn nến, tụng đọc những lời Kinh Phật, đi kinh hành dưới tán cây thật là trang nghiêm và xúc động.

Ngòai vị truởng giả Cấp Cô Độc, ở xá vệ còn một vị thí chủ rất nổi tiếng thời bấy giờ là bà Tỳ Xá Khư (Visakha). Trong thời gian ở Xá vệ, ngòai 19 năm an cư tại Tịnh xá Kỳ Viên, Phật và giáo đòan đã an cư 6 năm tại Giảng đường Lộc mẫu do bà cúng duờng. Đó là một vườn xoài nằm cách Tinh xá Kỳ Viên khoảng 5 km. Nữ thí chủ Tỳ Xá Khư là một Phật tử giàu có đứng hàng thứ nhì ở thành Xá Vệ, chỉ sau Ngài Cấp Cô Độc. Bà rất kính quý Phật và phát tâm cúng dường mọi nhu cầu cho Tăng Ni tu học tại kinh thành này. Bà đã dành một khu vườn xoài lớn, thoáng mát và rộng rãi cho Phật và chúng Tăng. Vì bà là người cư sĩ đức hạnh, mẫu mực, yêu thương giúp đỡ mọi người nên được người dân trong thành tôn xưng là Lộc Mẫu nghĩa là tình thương yêu, chăm sóc dành cho mọi người hiền lành như nai mẹ thương con. Và đó là lý do vì sao ngôi giảng đường do bà cúng duờng có tên là Lộc Mẫu.

Chính nhờ lòng phát tâm bảo hộ và cúng dường Phật và giáo đòan hết lòng của hai vị thí chủ mà Phật và Tăng đòan thời đó đã quyết định chọn Xá Vệ là nơi thường xuyên an cư vào mùa mưa từ năm thứ 21 sau khi Phật thành đạo, và nhờ thế đã đưa tên tuổi của Xá Vệ thành một cái tên gần gũi và thiêng liêng, vượt qua biên giới của không gian và thời gian.

Nhiễu quanh cây Bồ Đề Anan

11- Chia tay nhau, chia tay những con đường

Trong suốt 10 ngày ở Ấn Độ, chỉ có một chặng đường duy nhất từ Delhi đến Patna chúng tôi bay trên trời, 9 ngày còn lại chúng tôi di chuyển trên ô tô từ thành phố này sang thành phố khác, từ thánh tích này đến thánh tích khác, từ địa danh này đến địa danh khác, nên những con đường ở Ấn Độ cũng trở thành một người bạn đồng hành thân thiết của chúng tôi. Nhờ những con đường chúng tôi đến và đi, nhờ những con đường chúng tôi biết được đất nước và con người Ấn Độ, nhờ những con đường chúng tôi được nghe giáo Pháp và biết đến tài năng của nhau.

Những con đường ở đây hết sức giản dị, cũng như mọi thứ khác ở đây, chỉ mang đúng giá trị sử dụng mà không có bất cứ một cái gì thừa thãi, không có biển chỉ đường, không có biển quảng cáo, đa phần cũng không có luôn cả đèn đường. Khi chúng tôi tới Ấn Độ, ở đây vừa có một đợt mưa lớn, nên những con đường vốn đã không trơn nhẵn, lại càng thêm nhấp nhô uốn lượn. Ngồi trên xe chúng tôi cảm nhận được nơi mình đang đến nằm xa các trung tâm kinh tế nhiều hay ít. Những thành phố thuộc các tiểu bang nghèo, những thị trấn nằm càng xa các thành phố lớn thì những con đường đến đó càng nhiều thử thách hơn. Thế nhưng ngồi bên cửa sổ nhìn ra làng xóm hai bên đường, ngắm những con người mộc mạc chân chất trên các chợ quê thật thú vị làm người ta quên bớt những cú xóc, quên bớt những lắc lư. Ở đây đa số dân chúng sử dụng thực phẩm tự cung tự cấp, chứ không thấy có đồ nhập từ nước ngoài về, nên hoa quả nông sản không phong phú như ở các nước Âu Châu, danh mục các loại hoa quả ở mỗi nơi một khác, tùy vào thời tiết khí hậu và thổ nhưỡng của mỗi vùng. Trên đường từ Patna đi Bồ Đề Đạo tràng, con đường nằm gần sông Hằng nên hai bên đường bán rất nhiều chuối. Chuối là đặc sản của vùng này, nên người ta bán không phải từng nải chuối mà bán từng buồng chuối. Chuối ở đây rất rẻ, với 10 đô la mỹ, chúng tôi mua được tới 4 buồng chuối chín vàng, cả đoàn ăn suốt mấy ngày mới hết. Ở trên những chặng khác không có bán nhiều chuối như thế, nhưng lại có thêm ổi rất to và thơm mà cũng không đắt, chừng 1 đô la mỹ một kg, có nơi lại có những trái lựu ngọt mát và nhiều nước. Nhìn qua các sạp trong chợ, chúng tôi nhận ra một điều là ở đây có rất ít quán bán thịt. Có nhiều chợ hoàn toàn không thấy hàng bán thịt. Một số chợ chỉ thấy bán những lồng gà còn đang sống, nghĩa là người ta sẽ bán cả con cho khách mang về thịt chứ chưa thịt sẵn. Đôi chỗ, cũng có quầy bán gà đã thịt nhưng rất ít, chỉ thấy bầy ra 1-2 con. Một lần đi qua bờ sông, chúngtôi mới thấy có hàng bán cá, có lẽ là cá được đánh bắt từ dưới sông đưa thẳng lên để bán. Sau này hỏi chuyện chú hướng dẫn viên của đoàn, chúng tôi được biết thêm là ở Ấn Độ có tới 60-70% dân chúng ăn chay, những người còn ăn thịt thì họ chủ yếu chỉ ăn gà và cá. Ở đây có lẽ trứng là món ăn rất phổ biến, và phổ thông vì thấy chợ nào cũng có một tiệm trứng, mà không phải chỉ bán trứng kèm với những thực phẩm khác, mà cả hiệu chỉ bán mỗi một mặt hàng là trứng thôi. Trứng bầy trên sạp, trứng treo trên cột, trứng xếp trên tủ, trứng la liêt xung quanh người bán hàng. Đến cuối chuyến đi, chúng tôi ngồi nhớ lại thì thấy trứng đúng là món ăn..mọi ngày, mọi nơi và mọi lúc thật. Ở thành phố nào, ở khách sạn nào, ngày nào chúng tôi cũng được thưởng thức món trứng đủ cả 3 bữa, với nhiều kiểu chế biến khác nhau, rất phong phú. Nhiều khi, một bữa chúng tôi được thưởng thức tới ba kiểu trứng khác nhau.

Ở đây ít khi người ta để ý đến việc trang trí nhà cho đẹp. Nhà cửa nhiều nơi trông như những công trình xây dựng đang thi công, vì nhà không có cả cửa sổ và cửa ra vào, nói gì đền trát vữa hay sơn mầu. Hình như tôi chưa hề nhìn thấy một vườn hoa nào trồng xung quanh nhà của dân chúng ở đây cả. Không những không để ý đến việc trang trí nội thất, họ cũng không để ý đến việc bảo đảm an toàn nữa. Trong cả hai trường học mà chúng tôi tới thăm, trẻ con phải học trong những căn phòng không có đủ những điều kiện an toàn tối thiểu nhất. Nơi thì cầu thang không được lắp tay vịn dù rất hẹp, nơi thì những lõi sắt thòi ra khỏi các khối bê tông dài đến cả mét, xòe ra xung quanh như những nan quạt ngay trên đầu học sinh. Thế nhưng rất đặcbiệt là mọi người hoàn toàn không bận tâm đến việc này, các em học sinh vẫn tươi cười bên những trang sách, những người dân vẫn hoan hỉ được có một mái nhà che nắng che mưa, nhìn với theo ô tô và cười rất tươi với chúng tôi.

Thế nhưng ở đây bóng dáng các cô, các chị phụ nữ trong bộ váy sari lại luôn luôn rất đẹp. Chiếc váy sari làm đẹp cho phụ nữ Ấn Độ ở mọi lứa tuổi, mọi lúc, mọi nơi. Trên khắp mọi nẻo đường tôi đi qua, tôi chưa hề nhìn thấy một người phụ nữ Ấn nào ăn mặc không đồng bộ. Dù là loại vải rẻ tiền, dù là mặc để đi làm đồng, dù là một cụ già đã rụng gần hêt răng, những chiếc váy sari họ mặc đều là một bộ hài hòa về mầu sắc, về kiểu dáng với chiếc áo và chiếc khăn đính kèm. Những chiếc váy sari rực rỡ đủ các gam mầu, được may cầu kỳ với nhiều kiểu trang trí lấp lánh y như trang phục cho các diễn viên lên sân khấu. Những chiếc váy sari giúp cho người phụ nữ ở đây thêm phần lộng lẫy và mềm mại, quyến rũ. Ở những nước phụ nữ có ít tự do và tiếng nói thì hình như họ luôn luôn phải lo giữ gìn sắc đẹp của mình, thứ tài sản duy nhất mà họ được làm chủ. Có một lần tôi hỏi một người theo đạo Hồi, tại sao phụ nữ nước họ lại trang sức nhiều vàng, bạc, đá quý trên người như thế. Họ giải thích là vì phụ nữ không có quyền hành gì cả, khi nào chồng đuổi đi là phải đi luôn, nên họ phải đeo trên người nhiều đồ trang sức không phải để làm đẹp, mà phải đề phòng khi bất ngờ bị đuổi ra khỏi nhà thì còn có vốn mang theo.

Chuyến đi nào rồi cũng đến lúc kết thúc, cuộc vui nào rồi cũng đến lúc chấm dứt, cuộc hội ngộ nào rồi cũng đến lúc chia tay. Chúng tôi chia tay từng nhóm một. Kẻ đi lên máy bay về Delhi, người ở lại đi ô tô bus, nhóm bay về Moscow, nhóm bay sang Âu châu, các cuộc chia tay thật cảm động, bồi hồi cứ như chúng tôi đã ở bên nhau lâu lắm rồi. Chuyến đi đã kết thúc, nhưng những cảm xúc mầu nhiệm được sống thật trọn vẹn trong Chánh pháp sẽ còn lại với chúng tôi mãi mãi. Chúng tôi chia tay nhau, mỗi người về lại với cuộc sống của mình, nhưng những kỷ niệm được chia sẻ với nhau trong những ngày kỳ diệu của chuyến đi sẽ còn hiện diện sống động trong tâm trí mỗi người. Xin tri ân các vị Thầy đã lo lắng cho chúng tôi suốt cả chặng đường, xin tri ân những bè bạn đã chia xẻ và gắn bó suốt cả chuyến đi, xin tri ân những con người vô danh đã tận tình phục vụ chúng tôi suốt mọi nẻo đường để làm nên một chuyến đi thật là an lạc và lợi ích.

Sân bay Lucknow







 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Bạn đọc gửi bài