10 ĐẠI ĐỆ TỬ PHẬT

   1. Tôn giả Xá Lợi Phất - Trí tuệ bậc nhất

   Trong hàng Thanh Văn đệ tử của đức Phật Thích Ca, Xá Lợi Phất được coi là người có trí tuệ bậc nhất. Ngài xuất thân trong một gia đình Bà-la-môn, thân phụ Đề xá là một luận sư nổi danh trong giáo đoàn Bà-la-môn.

   Thân mẫu khi mang thai Ngài, trí tuệ vượt trội hơn mọi phụ nữ tầm thường (Theo truyền thuyết đó là do ảnh hưởng của thai nhi).

   Đến tuổi trưởng thành Ngài từ giã quê hương phụ mẫu, lên đường tìm sư học đạo. Trên bước đường vân du, Ngài gặp vị Tỳ-kheo A Thị Thuyết, là một trong năm vị Tỳ-kheo đầu tiên quy y Phật, dạy cho bài kệ:

      	Các pháp do nhân duyên sanh.

      	Các pháp do nhân duyên diệt.

Ngài ngộ được bài kệ và cùng người bạn chí thân đó là Mục Kiền Liên quy y theo Phật từ đó.

   Xá Lợi Phất là người có công lớn trong việc truyền bá Đạo Phật từ phường nam về phương bắc. Ngài đã chiến thắng trong cuộc tranh luận với ngoại đạo và đã xây cất tu viện Kỳ Viên với 16 giảng đường dành cho đại hội giảng kinh, ngoài ra còn có 16 tiểu đường làm phòng ngủ, nhà khám bệnh.

   Khi biết tin Đức Phật sắp nhập diệt, Xá Lợi Phất đã xin Phật cho nhập diệt trước. Sau đó Ngài về quê, quy y cho mẹ xong rồi mới nhập diệt.

   2. Tôn giả Mục Kiền Liên - Thần thông bậc nhất

   Mục Kiền Liên là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là “phục lai căn,” còn dịch là “thái thúc thị”. Tên của Tôn giả là “Câu Luật Đà”, vốn là tên của một loại cây. Sự chào đời của Tôn giả cũng có một nhân duyên như Tôn giả Đại Ca Diếp vậy--Tôn giả Đại Ca Diếp là do cha mẹ cầu khẩn dưới cây mà sinh ra; thì Tôn giả Mục Kiền Liên cũng vậy, cũng do cha mẹ cầu tự dưới cây Câu Luật Đà mà sinh ra, cho nên lấy tên của cây nầy đặt tên cho con.

Mẹ của Tôn giả Mục Kiền Liên tuy cầu Thần linh, nhưng không tin Phật, không tin Pháp, không tin Tăng. Bà chẳng những không tin Tam bảo, lại còn hủy báng, phá hoại Tam bảo, nói nào là Tam bảo không tốt, nào là không đáng để tin theo…, cho nên sau khi chết, bà liền bị đọa vào địa ngục. Đợi đến sau khi Tôn giả Mục Liên chứng quả vị La Hán, đắc được lục thông, Tôn giả liền quan sát khắp các cõi giới để tìm mẹ; vừa nhìn đã thấy bà đã bị đọa vào địa ngục. Vì Tôn giả đã khai mở được Phật nhãn, Pháp nhãn, huệ nhãn, đắc được ngũ nhãn lục thông, nên nhìn thấy được mẹ mình đang chịu khổ nơi địa ngục, cơm cũng không có mà ăn; thế là Tôn giả liền đi xin một bát cơm để mang đến cho mẹ.

Vào đến địa ngục, Tôn giả dâng bát cơm cho mẹ. Bà mẹ của Tôn giả lúc còn sanh tiền vì tâm tham quá nặng nề, cho nên dù bị đọa làm ngạ quỷ nhưng vẫn không dứt bỏ được tâm tham. Bà một tay đỡ lấy bát, dùng vạt áo của tay kia che lại, rồi vội vàng chạy đến chỗ không có các ngạ quỷ, đem bát cơm ra len lén ăn một mình. Vì sao bà phải che bát cơm lại? Vì bà sợ các ngạ quỷ khác đến giành giật, nào ngờ cơm vừa đưa đến miệng thì liền hóa thành lửa. Đây là lý do gì? Đây là vì nghiệp chướng của bà quá nặng nề, nghiệp tội quá sâu dày, cho nên dù là thức ăn có ngon đến mấy, bà cũng không thể ăn được!

Tôn giả Mục Liên tuy là thần thông đệ nhất, nhưng bây giờ thì hết cách, không còn chú để niệm, không thể thi triển thần thông, không còn cách nào khác— đành đi tìm sư phụ thôi: “Những khả năng đệ tử học được, đến nơi đó đều trở nên vô dụng!” Thế là Tôn giả trở về tinh xá Kỳ Hoàn, tìm đến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thưa rằng: “ Mẹ của con bị đọa vào địa ngục, con mang cơm đến cho mẹ, nhưng mẹ vừa bốc ăn thì cơm liền hóa thành lửa. Xin Phật hãy nói cho con biết nên làm thế nào? Đức Thế Tôn từ bi, xin hãy cứu mẹ của con!”

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền đưa ra một phương cách giúp Tôn giả cứu mẹ, đó là cách gì? Phật bảo: “Vì mẹ của ông hủy báng Tam bảo, tội nghiệp quá nặng; bây giờ sức của một mình ông không thể nào giải cứu được đâu. Muốn cứu được mẹ ông thì vào ngày rằm tháng bảy, là ngày chư Phật hoan hỷ, cũng là lúc chư Tăng tự tứ, ông hãy thiết lễ Vu lan bồn, đây là lễ cúng “giải đảo huyền” (giải cứu cái khổ bị treo ngược). Trước tiên, ông hãy cúng dường mười phương Tăng; khi mười phương Tăng chưa thọ dụng những thức ăn này thì ông cũng chưa được dùng. Ông trước hết là phải cúng Phật, Pháp và Tăng, sau đó mới có thể thọ dụng những phẩm vật dâng cúng. Vào ngày này, ông thiết trai cúng dường Tam bảo thì mẹ của ông sẽ lìa khổ được vui!”

Thế là Tôn giả Mục Kiền Liên y theo phương cách này, thiết bày pháp hội Vu lan, lễ cúng Vu lan bồn. Cho nên mỗi năm đến ngày này, các chùa đều tổ chức pháp hội Vu lan bồn, siêu độ cho cha mẹ trong bảy đời quá khứ và cha mẹ hiện đời. Có người hỏi rằng: “Cha mẹ của tôi hiện còn tại thế, vậy tôi nên làm gì?” Cha mẹ hiện đời vẫn còn sống thì hãy siêu độ cho cha mẹ trong bảy đời đã qua; siêu độ cho cha mẹ trong quá khứ thì cha mẹ hiện đời cũng sẽ được tăng thêm phước báu, kéo dài tuổi thọ.

Trong hàng Tỳ-kheo đệ tử của Phật, có nhiều vị thần thông phi thường, nhưng Mục Kiền Liên được danh hiệu đệ nhất là vì trong lúc hóa đạo, Ngài ưa hiện thần thông. Đức Phật tuy không cho phép các đệ tử hiển phép lạ mê hoặc người nhưng riêng đối với Mục Kiền Liên thì Ngài thường khen ngợi.

3. Tôn giả Ma Ha Ca Diếp - Hạnh Đầu đà bậc nhất

   Tôn giả Đại Ca Diếp là con của nhà hào phú trưởng giả dòng Bà-la-môn tên Ni Câu Lư Đà Kiệt Ba. Tiếng đồn tài sản của phụ thân Ngài có thể sánh với vua Tần Bà Sa La đương thời. Ngày mẫu thân Tôn giả lâm bồn, chính là lúc bà đang dạo chơi trong đình viện, bỗng cảm thấy mệt mỏi, bà đến ngồi dưới bóng cây đại thọ Tất-bát-la nghỉ ngơi. Lúc ấy chẳng biết thiên y từ đâu bay tới, và Đại Ca Diếp cất tiếng khóc chào đời.

Theo truyền thuyết, ngày Đại Ca Diếp rời nhà tìm đạo, lúc đó Ngài đã ba mươi tuổi, cũng chính là ngày đức Phật ngồi dưới cội cây Bồ-đề, trên tòa Kim Cang thấy sao mai mọc và thành Đẳng chánh giác.

Lúc Tôn giả gặp được Phật, đức Thế Tôn đã bảo: "Này Đại Ca Diếp! Ông chính thật là đệ tử của ta. Ta chính là lão sư của ông. Trên thế gian này, như người nào chưa chứng quả vị Chánh giác, không dám nhận ông làm đệ tử. Ông hãy theo ta."

Ngài tu theo hạnh đầu-đà (tu khổ hạnh). Lúc già yếu, Ngài không những không thối chuyển mà còn siêng tu bội phần hơn. Đức Phật tán thán khích lệ rằng: "Có hạnh đầu-đà, pháp ta mới trường tồn" (Đầu đà nghĩa là phải rũ sự tham trước ba món: ăn, mặc, ngủ). Ngài được tôn xưng là Đầu-đà đệ nhứt, thường đứng hầu bên tay trái Đức Phật. 

Sau khi Đức Phật nhập Niết-Bàn, Ngài hội họp Tăng-chúng, gồm những vị đại đức thông hiểu kinh luật, tại nước Ma-kiệt-Đà, thành Vương-xá, núi Kỳ-xà-Quật để kết tập kinh, luật, luận. Hội nghị nầy là lần kết tập đầu tiên. Ngài là vị Tổ sư thứ nhất được Đức Phật truyền y bát, cầm đầu Tăng chúng và truyền bá giáo pháp. Ngài lại tượng trưng cho hạnh ly dục hoàn toàn của đạo Phật. Vì là vị Tổ đầu tiên được đức Phật truyền y bát, nối truyền giáo pháp, nên cũng gọi Ngài là vị Tổ-sư Thiền tông thứ nhất.

4. Tôn giả Tu Bồ Đề - Giải không đệ nhất

   Tu Bồ Đề là vị đệ tử Giải Không Đệ Nhất (am hiểu tính không) của Phật Thích Ca. Ngay vừa chào đời, tất cả tài bảo, dụng cụ trong nhà Tôn giả bỗng nhiên biến mất, không thấy một cái nào. Người trong nhà đều lo sợ, vội mời thầy xem tướng đến bói một quẻ. Tướng sư gieo quẻ rồi nói:

- Đây là một hỷ sự, trong nhà sanh quý tử. Tiền bạc, bảo vật trong nhà đều trống rỗng ngay khi cậu bé chào đời đó là người Giải không đệ nhất. Chúng ta nên đặt tên cho cậu bé là Không Sanh! Điều này rất đại cát lợi, tương lai chú bé sẽ không bị danh văn lợi dưỡng thế gian ràng buộc, gọi chú là Thiện Cát cũng tốt.

Mặc dầu sanh trưởng trong gia đình giàu có và rất được cha mẹ cưng chiều, nhưng từ nhỏ Tu Bồ Đề đã không nô lệ vào tiền tài báu vật. Cha mẹ cho đồng nào, thì cậu đem bố thí cho những người nghèo khổ. Lạ lùng là khi đi đường mà gặp kẻ hành khất áo không kín thân thì cậu liền cởi áo của mình mà cho họ, chỉ mặc vỏn vẹn quần cụt về nhà.

Một ngày nọ, trên đường hoằng dương đạo pháp, Đức Thế Tôn đến quê hương của Tu Bồ Đề. Do bản tính tò mò, Tu Bồ Đề đã đi xem Phật là người như thế nào và đã cảm động và xin xuất gia khi được nghe Pháp Âm của Phật:

     Thế gian nầy chẳng nên đấu tranh với nhau bởi vì mọi người đều là một thể nhưng xưa nay con người vốn không phân biệt được nhân ngã mà thôi. Tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra, chẳng có vật nào độc lập mà tồn tại. Mình và vạn vật đã nương nhau để sống còn thì việc ban bố lòng thương và ân huệ cho chúng sanh khi mới nhìn thì giống như vì người nhưng thật ra đối với chính mình thì lợi ích còn lớn hơn.

Một hôm tại nước Xá Vệ thuộc tịnh xá Kỳ Viên, Phật và 1250 vị đại Tỳ kheo đều đắp y và mang bình bát vào thành theo thứ lớp khuất thực. Khuất thực xong, Phật và chư đệ tử đồng về tịnh xá để thọ trai. Sau đó, Đức Thế Tôn nhắm mắt tỉnh tọa và trong tăng chúng không ai dám hướng về Phật mà hỏi han gì cả.

Lúc ấy, Tu Bồ Đề ở trong đại chúng, vội đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, đảnh lễ Phật rồi cung kính hỏi:

   Bạch Thế Tôn! Đệ tử chúng con đều biết Thế Tôn là bậc tối thiện nhiếp hộ chúng con, nhưng đối với hàng thiện nam thiện nữ đã phát tâm Bồ Đề thì làm thế nào để an trụ chơn tâm? Với những vọng niệm nhiễu loạn như thế thì làm sao có thể hàng phục vọng tâm? Xin Đức Thế Tôn từ bi vì đại chúng mà chỉ dạy.

Câu hỏi của Tu Bồ Đề làm Đức Phật rất hoan hỷ mà dạy rằng:

     Như muốn an trụ nơi tâm Bồ Đề và không bị vọng niệm quấy rối thì khi bố thí nên hành bố thí vô tướng, khi độ sanh nên thực hành độ sanh vô ngã. Nên y theo đó mà an trụ chơn tâm và y theo đó mà hàng phục vọng tâm.

Một câu chuyện khác: Có một người ngoại đạo tu chứng được 5 phép thần thông, nhưng khi nghe Trời Đé Thích nói rằng ông sắp chết thì hoảng sợ mà đi gặp Phật xin dạy cho pháp môn bất tử. Sau khi bảo tu sỹ ngoại đạo "buông" ba lần, Đức Phật dạy: "Lần thứ nhất ta bảo ông buông là buông chấp trần cảnh, lần thứ hai ta bảo ông buông là buông chấp sáu căn, lần thứ ba ta bảo ông buông là buông chấp vọng thức. Nếu ông buông được ba cái đó là ông dứt sanh tử."

Ý Đức Phật muốn nói rằng: Khi buông chấp trần cảnh có nghĩa là đừng để sáu căn chạy theo sáu trần thì tâm không bị dính mắc. Tức là tâm không khởi phân biệt tốt xấu thì tâm không bị si mê vọng niệm. Khi buông chấp sáu căn có nghĩa là sáu căn không bị sáu trần quyến rũ thì sáu căn sẽ được thanh tịnh. Còn buông chấp vọng thức có nghĩa là tâm không chạy theo vọng trần thì không sanh ra vọng thức. Tóm lại ý Phật muốn nói với ông ngoại đạo là nếu tâm bên ngoài không bị vọng trần kích thích và bên trong không bị phiền não quấy phá thì tâm sẽ thanh tịnh. Khi tâm đã thanh tịnh thì không gây nghiệp, mà không gây nghiệp tức là không còn sanh tử.

Tu Bồ Đề thấu hiểu cái đạo lý cao siêu và cảm kích pháp âm của Phật nên vui mừng rơi nước mắt và quỳ dài trước tòa của Thế Tôn mà bạch Phật rằng:

   Bạch Phật! Từ khi con làm người đến nay, cái đạo lý sâu xa vi diệu như thế này mới được nghe đến lần đầu. Từ đây con không còn vướng vào chấp ngã chấp pháp. Ngay cả bốn tướng ngã, nhơn, chúng sanh và thọ giả cũng không thể trói buộc con. Lìa tất cả chấp trước mới thấy được lý “không” và lìa tất cả danh tướng mới thấu đáo nhơn sanh. Hôm nay con đã thể hội tâm lý của Phật như là nhận thức rõ cho chính con.

Tu Bồ Đề nghe xong thì khai ngộ và từ đó được xưng là đệ nhất giải không.

5. Tôn giả A Nan Đà - Đa văn đệ nhất

   Tôn giả A Nan (Ananda) là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, người được mệnh danh là rất uyên thâm trong nhiều lĩnh vực và có trí nhớ siêu phàm (đa văn đệ nhất). Với những đức tính đặc biệt, tôn giả A Nan được đại chúng thời bấy giờ đề cử làm thị giả cho đức Phật và được đức Phật hoan hỷ chấp thuận. Tôn giả A Nan đã luôn theo sát đức Thế Tôn trong suốt hơn 25 năm cuối, luôn tận tụy trong việc chăm sóc đức Phật; ghi nhớ tất cả những gì mà đức Phật dạy bảo; luôn đem đến niềm an lạc cho mọi người, như chính ý nghĩa của tên Ngài -- Ananda: an lành và hạnh phúc.

A Nan sinh trưởng trong một gia đình truyền thống Kshatriya (chiến sĩ giai cấp nắm quyền hành thống trị đất nước Ấn Ðộ thời bấy giờ), con của vua Amitodana. Vua Amitodana là em ruột của vua Suddhodana (Tịnh Phạn Vương - phụ thân của đức Phật). Trong quan hệ dòng họ, A Nan là em chú bác ruột với đức Phật. Ngày đức Phật trở về Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) để thăm vua cha và thân quyến lần đầu tiên sau khi thành đạo, trong số vương tôn công tử ra nghinh đón Ngài có chàng trai trẻ thuộc dòng họ vua chúa -- Ananda, lập tức A Nan bị thu hút bởi cốt cách uy nghi và thanh cao của đức Phật. Sau đó, A Nan cùng với sáu vương tử khác đã đến xin đức Phật cho phép được gia nhập Tăng đoàn, đi theo con đường mà đức Thế Tôn đang đi.

Với trí thông minh có sẵn, sau khi trở thành một tu sĩ, Tôn giả A Nan đã tiếp thu giáo lý của đức Phật trọn vẹn như nước thấm vào cát. Nhân một hôm nghe Trưởng lão Punna thuyết pháp, Ngài chứng đắc được quả thánh Dự Lưu (Sotàpatti - Tu đà hoàn) -- cấp độ đầu tiên trong 4 cấp độ giải thoát (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán).

Hơn ai hết, A-nan-đà bênh vực cho việc nữ giới được học hỏi giáo pháp. Nhờ sự can thiệp của Tôn giả mà Phật chấp nhận thành lập ni đoàn. Chính vì điều này mà hiện nay các chùa Ni đều thờ hình tượng Tôn giả A nan Đà.

Tuy là một người rất mực thông minh, nhạy cảm và có một trí nhớ chính xác, mạnh lạc như thế, nhưng tôn giả A Nan chưa phải là một vị A la hán -- bậc đã hoàn toàn giải thoát, nên khi nghe đức Phật cho biết chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ nhập diệt, Tôn giả buồn đau vô cùng. Ký ức về những ngày tháng theo sát bên đức Phật, những hành động, cử chỉ đầy tình thương yêu vô biên và những lời dạy đầy trí tuệ của Ngài cứ tuôn chảy về trong Tôn giả. Nghĩ về một mai đây sẽ không còn Phật nữa, Tôn giả A Nan đã ra ngoài và bật khóc thành tiếng. Ðức Phật nhận biết điều này, Ngài gọi A Nan lại và ân cần, bảo:
"Không nên than khóc, này Ananda, không nên phiền muộn; Như Lai đã từng dạy rằng mọi kết hợp đều phải chấm dứt bằng sự biệt ly. Hiện hữu là vô thường, luôn biến dịch. Ðã từ lâu, con đã tận tình hầu cận Như Lai với tâm quý mến kỉnh mộ, con hãy nỗ lực tu tập để thành tựu quả vị A la hán - quả Thánh tối thượng"
Ba tháng sau khi đức Phật nhập diệt, vào đêm trước Ðại hội kết tập kinh điển lần thứ I gồm 500 vị A la hán do Tôn giả trưởng lão Ðại Ca Diếp (Maha Kasyapa) chủ tọa, với nỗ lực thiền quán vượt bực, Tôn giả đã chứng đắc A la hán và được tham dự Ðại hội, phụ trách trùng tuyên kinh tạng. Mở đầu của mỗi kinh, Tôn giả A Nan đã lặp lại lời "Như vậy tôi nghe..." (Như thị ngã văn), mà mỗi khi tiếp xúc với kinh điển, chúng ta đều gặp. Chính nhờ có A Nan mà lần kiết tập đầu tiên, mọi lời Phật dạy đều được ghi chép lại đầy đủ, không thiếu sót.

          Xem tiếp                                                                               

 

Mục lục Tôn ảnh

 

Đức Phật Thích Ca

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

Phổ Hiền Bồ Tát

Phật A Di Đà

Quán Thế Âm Bồ Tát

Đại Thế Chí Bồ Tát

Phật Dược Sư

Di Lặc Bồ Tát

Địa Tạng Vương Bồ Tát

Chuẩn Đề Bồ Tát

10 Đại Đệ Tử Phật

Đạt Ma Sư Tổ

Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát

18 Vị A La Hán

88 Vị Phật Hồng danh

7 Vị Phật quá khứ

Pháp sư Huyền Trang

 

Tôn ảnh Phật ngọc

 

 

   Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

Đọc tiếp  

 

  • Hội PG Thảo Đường

  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp  

     

    Lịch sinh hoạt Phật sự

    •    Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem lịch sinh hoạt  


      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh  

     

     

     

    Các trang web liên kết