TÀI THÍ - PHÁP THÍ


 

Tài thí. Tài thí tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí có hai loại:

a) Nội tài. Là những vật chí thân quí báu nhất của mình như thân mạng, đời sống của mình. Thí nội tài ở đây tức là hy sinh thân mạng để cứu vớt kẻ khác ra khỏi nguy nan. Trong các chuyện tiền thân của đức Phật Thích Ca, chúng ta đã thấy nhiều gương thí nội tài, như cấu chuyện Ngài lái buôn kia, trong khi đi biển bị thuyền chìm đã tự hy sinh thân mạng bằng cách buông tay khỏi cột buồm mà mình đang bám vào, để nhường chỗ cho những hành khách xấu số khác khỏi chết đuối.
Thí nội tài là một cử chỉ hy sinh cao đẹp nhất mà chỉ những người giàu lòng từ bi, bác ái mới làm được. Nếu còn xem thân mạng mình là quý, là trọng hơn thân mạng kẻ khác thì chắc chắn không bao giờ thực hiện được loại bố thí này.

b) Ngoại tài. Ngoại tài là những vật thường dùng của mình như thức ăn đồ mặc, tiền bạc, xe cộ, ruộng vườn, nhà cửa v.v...Ðem những vật ấy ra cho những người túng thiếu, nghèo khổ thì gọi là thí ngoại tài.

Pháp thí. Ðem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy quí báu của đức Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác; hoặc y theo giới luật của Phật tu hành thành thật để làm khuôn mẫu cho người bắt chước, bỏ dữ theo lành, cải tà quy chánh đều là pháp thí. Pháp thí có một giá trị rất lớn lao hơn cả tài thí, và tài thí chỉ giúp người khác đỡ túng thiếu về phương diện vật chất trong một thời gian, hay nhiều nhất là cứu giúp một đời người. Nhưng pháp thí giúp đỡ người rất nhiều về phương diện tinh thần, không riêng gì đối với người nghèo khó, mà cả người giàu sang, chức tước; không phải chỉ có ảnh hưởng tốt trong một giai đoạn, mà gieo nhân lành cho nhiều đời kiếp về sau. Vì những lẽ đó, nên người Phật tử chân chính, không bao giờ bỏ mất một dịp nào mà không làm pháp thí, cả về phương diện khẩu giáo (dùng lời lẽ đúng Phật pháp để chỉ dạy,  lẫn phương diện thân giáo (dùng đời sống chân chính hợp đạo để chỉ dạy).

So sánh 2 loại Tài thí và Pháp thí.

Đức Phật đã nói: 'Trong hai loại Bố thí này, thì Pháp thí là trên' (Anguttara I). Vì sao? Vì nhiều lý do:

- Phước báo của Tài thí vẫn thuộc cõi Dục giới (Kàmadhatu) còn phước báo của Pháp thí có thể nằm trong ba cõi (Traidhàtuka) hoặc ngoài ba cõi.

- Sự Bố thí tài (tiền của, đồ vvật) có giới hạn, còn sự Bố thí Pháp không có giới hạn (apramàna), vì tiền cho lâu rồi cũng hết, còn giáo pháp cho hoài không bao giờ hết.

- Quả báo của Tài thí còn thuộc về hữu lậu, trong khi quả báo của Pháp thí thuộc vô lậu.

- Bố thí tài cần phải đòi hỏi nhhiều sức lực, ra công trong khi bố thí pháp chỉ cần sự thông minh và trí tuệ.

- Chỉ có bố thí Pháp mới có thể gặt hái được những phước báo giống như các hàng Thanh Văn (Sravaka), Bích chi Phật (Pratyekabuddha) hay Bồ Tát (Bodhisattva).

- Chỉ có bố thí Pháp mới có thể dẫn người khác đến con đường giác ngộ (Bodhimàrga).

- Ta có thể thực hành Tài thí trong bất cứ thời đại (Kalpa) nào, dù có Phật hay không có Phật ở đời. Ngược lại, chỉ trong thời đại có một đức Phật ra đời ta mới có thể thực hiện Pháp thí được. Vì thế Pháp thí hiếm hơn Tài thí.

Ta có thể nêu ra nhiều lý do nữa, nhưng tóm lại bố thí Pháp sẽ gặt hái được nhiều công đức hơn bố thí tài.

Phật tử chúng ta thực hành Pháp thí như thế nào?

Đa số các Phật tử đều thực hành Bố thí dạng tài thí như: Làm từ thiện, cúng dường đóng góp chùa, giúp đỡ quần áo, tiền bạc cho những gia đình gặp khó khăn, hoạn nạn, cứu trợ bảo lụt, người già neo đơn, người bệnh nặng không đủ tiền thuốc men...

Sự thực hành Tài thí rất nhiều, nhưng việc thực hành Pháp thí còn mới hạn chế ở việc in ấn tống một số kinh sách. Nhiều Phật tử ấn tống kinh sách theo phong trào thì cũng chẳng khác gì Tài thí.

Đa số các Phật tử thường chú trọng về vật thí, mà quên đi phần pháp thí trong các cuộc cứu giúp thiện nguyện . Giả sử khi có thiên tai, dịch bệnh, mỗi phần quà được trao cho người nhận, chỉ dăm ký gạo, vài thùng mì gói, một ít quần áo hoặc tiền ..vv.. thì liệu giúp họ được bao lâu ? .Rồi đói lại hoàn đói. Nghèo khổ , thiếu thốn đau đớn bệnh tật.Khổ vẫn hoàn khổ. Có một điều tối quan trọng. Là cái khổ sở của cuộc đời này,khổ về vật chất hay khổ về Tâm linh nó hành hạ con người, mà con người đang ôm lấy, vật lộn,đau đớn với, chẳng qua vì chưa hiểu được một cách tường tận .Tại sao ta khổ ? Khổ từ đâu đến.Trả khổ,và diệt khổ như thế nào. Nếu giáo pháp của Phật được hiểu một cách tường tận, rồi từ đó áp dụng vào cuộc sống đơn giản, thì cái khổ này không những được hoá giải bớt đi, và còn đem lại sự tin yêu cho đời sống.vì đã hiểu và biết cách điều trị cái bệnh khổ.

Vì vậy khi thực hành Pháp thí, chúng ta cố gắng đem những đạo lý, hay chân lý để thuyết giảng cho người khác nghe, khiến cho họ không đi lầm đường, không gây tội lỗi, hoặc thân tâm được an lạc v.v… Tức là giúp họ thoát khổ không chỉ trong đời này mà cò oở nhiều đời sau. Trong Đại Trí Độ Luận chép: “đem những lời pháp vi diệu (chân lý) của đức Phật để diễn thuyết cho người khác nghe, đó gọi là thực hành Pháp thí ”.
Thêm vào đó, nếu thấy ai hơn mình mà mình không những không mang lòng đố kị, ghanh ghét mà còn biết tùy hỷ công đức, hoặc đưa ra những lời khích lệ và tán thán v.v…, đó cũng chính là một phương pháp thực hành Pháp thí.

Ví dụ, trong thời gian gần đây hầu như tất cả mọi người trên thế giới, đều đang hướng tâm về đất nước mặt trời mọc, để cầu nguyện, động viên, tiếp sức và an ủi v.v…, khiến cho họ giảm bớt đi phần nào những đau thương mất mát để sớm trở lại với một cuộc sống thanh bình và an lạc, đó không chỉ là một phương pháp thực hành Pháp thí hết sức hữu hiệu mà còn mang đậm tính nhân văn.

Tóm lại, Pháp thí chính là đem chân lý và trí tuệ để thuyết giảng cho người khác nghe, khiến cho họ bỏ ác làm lành, tạo niềm an lạc và tìm cầu đến một cuộc sống Chân - Thiện - Mỹ.
Thêm vào đó, chúng ta bớt đi lòng đố kị và ích kỷ hẹp hòi, mà thay vào đó bằng sự khích lệ, tán thán và động viên, đó cũng chính là một biện pháp thực hành Pháp thí. Đức Khổng Tử cũng dạy rằng: “khi thấy người hiền đức thì chúng ta nên cố gắng học hỏi sao cho bằng họ. Ngược lại, nếu thấy người bất hiền thì hãy nên suy ngẫm, hoặc xem xét lại chính bản thân mình”. Khi thường xuyên xem xét lại bản thân mình, thì về mặt tâm linh chúng ta ngày càng tiến bộ.

Như vậy có thể thấy, chỉ cần có đủ khẳ năng về tiền bạc vật chất cộng với tấm lòng tương thân tương ái là chúng ta đã có thể thực hiện được việc giúp đỡ người khác trong lúc khó khăn hoạn nạn - Tài thí.
Tuy nhiên, đây chỉ là đối với những người có lòng nhân ái, vị tha và biết thương người như thể thương thân mà thôi. Còn đối với những kẻ trọng phú khinh bần, một cắc cũng không chịu bỏ ra thì đây quả là một việc làm hết sức khó khăn đối với họ.
Đối với việc Pháp thí, thì đây quả là một việc làm không đơn giản. Bởi lẽ, chúng ta không chỉ có kiến thức, trí tuệ và lòng vị tha là đủ, mà điều quan trọng là phải có sự kiên nhẫn và thời gian thì mới có thể thuyết giảng đạo lý cho họ nghe được.
Có thể nói, trong hai việc Tài thí và Pháp thí, thì Pháp thí là một việc làm phải mang tính kiên trì, thường xuyên, lâu dài và thậm chí là phải có “kỹ xảo” thì mới thực hiện được.
Tuy nhiên, giúp đỡ về mặt tinh thần nó là một tài sản vô giá, đặc biệt là đối với những người đang cần sự trợ giúp về mặt tinh thần. Bởi lẽ, tinh thần nó đóng một vai trò hết sức quan trọng, đôi khi chỉ một lời nói, hoặc một lời khuyên đúng lúc, đúng chỗ và phù hợp nó sẽ có tác dụng cho cả cuộc đời họ.
Nhất là trong thời buổi công nghiệp, với cuộc sống tất bật và áp lực như hiện nay, một lời động viên khích lệ, hoặc một câu đạo lý sẽ khiến cho họ giảm đi không ít áp lực.
Trong xã hội hiện nay, nhiều người về mặt vật chất tuy được sung túc dồi dào, nhưng đôi khi tinh thần của họ thật là trống rỗng, hoang mang và vô định, họ thực sự cảm thấy bất an về nhiều mặt. Ví dụ, tiền nhiều như thế thì tiêu như nào, hoặc nay gia sản có cả ngàn tỉ đồng, nhưng qua một đêm lại tay trắng thì sao?
Ôi! quả là nỗi lo chồng chất lên nỗi lo. Thế nên, chúng ta hãy đừng xem họ là “biển”, hãy đừng bao giờ xa lánh họ, vì biển càng rộng càng cô đơn. Do vậy, những người thầy tâm linh, những người thầy tinh thần đối với họ quả là vô cùng cần thiết.
 

 

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Đề mục giáo lý