MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh (phiên latinh từ tiếng Phạn: Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra, Prajnaparamitahridaya Sutra) còn được gọi là Bát-nhã tâm kinh, hay Tâm Kinh.
Đây là kinh ngắn nhất chỉ có 260 chữ của Phật giáo Đại thừa và Thiền tông. Nó là kinh tinh yếu của bộ kinh Đại Bát-Nhã, gồm 600 cuốn.
Kinh này được hầu hết các Phật tử tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên… biết đến và rất thường dùng trong việc đọc tụng. Phật tử Việt Nam thường quen tụng bản dịch Hán Việt vì lối cấu trúc theo nhịp của bản đó dễ tụng đều đặn và rất hay. Tuy nhiên, nếu không đọc kỹ bản dịch ra tiếng Việt thì khó mà hiểu sâu được ý nghĩa của Kinh này..

Lịch sử:

Thời điểm ra đời của kinh này có thể là từ năm 100 TCN đến thế kỷ thứ 2. Một số tác giả cho rằng kinh này do Bồ tát Long Thọ (Nàgàrjuna) viết.
Bản kinh phổ biến nhất ở Việt Nam là bản của nhà sư đời Đường tên là Trần Huyền Trang (Tam Tạng) sau khi thỉnh kinh ở Ấn Độ về đã dịch lại vào năm 649. Trước đó, cũng đã có nhiều nhà sư dịch từ tiếng Phạn ra Hán ngữ, trong đó có ngài Cưu Ma La Thập (402-412) đời Diêu Tần.….

Văn bản:

Về đại cương thì các bản văn đều khá rõ và giống nhau, nhưng về chi tiết ngay các bản chữ Phạn để lại cũng có khác nhau chút ít. Dĩ nhiên là trong các bản dịch đều có những chi tiết khác nhau nhỏ. Hiện nay, có nhiều bản dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, như tiếng Hán, tiếng Tây Tạng, tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên, tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Anh…..
Edward Conze, một nhà nghiên cứu Phật học Anh (1904-1979), đã bỏ ra nhiều công sức nghiên cứu mà không thể tìm thấy được bản văn nguyên thủy của kinh này, mặc dù đã có nhiều bằng chứng cho thấy có một nguyên bản ban đầu của kinh này.
Toàn bộ bộ kinh lớn Đại Bát Nhã đã bị quân Hồi giáo tiêu hủy khi họ đánh chiếm Đại học Phật giáo Nalanda.
Khi so lại bản dịch phổ biến hiện nay hầu hết dịch lại từ bản Hán ngữ của nhà sư Trần Huyền Trang với một phiên bản khác còn lưu lại được trong Tạng ngữ thì bộ kinh này thiếu phần khai kinh và phần kết luận “hoan hỉ vâng làm theo” của chư vị sau khi nghe giảng kinh. Trong bản dịch từ Tạng ngữ, phần này vẫn còn đầy đủ.

Nội dung:

Phiên âm Hán-Việt của bản dịch Hán văn:
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức. Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam bồ-đề.
Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Bản dịch Việt:
Bồ Tát Quán Tự Tại khi hành trì thâm sâu về trí tuệ Bát-nhã Ba-la-mật, soi thấy năm uẩn đều không, do đó vượt qua mọi khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế.
Xá Lợi Tử! Tướng không của các pháp ấy chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng thêm, chẳng bớt.
Cho nên trong cái không đó, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới. Không có vô minh, mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết. Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí cũng không có đắc.
Vì không có sở đắc, Bồ-tát nương vào trí tuệ Bát-nhã nầy thì tâm không mắc chướng ngại, vì tâm không mắc chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết-bàn.
Chư Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát-nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.
Cho nên phải biết rằng Bát-nhã Ba-la-mật-đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp không gì sánh bằng, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối.
Cho nên nói đến chú Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thì phải nói câu chú:
Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà.


Giải nghĩa:
Bát-nhã (Prajñā) - Trung Quốc dịch là Trí tuệ, nhưng đây là trí tuệ theo tinh thần đạo Phật, tức là loại trí tuệ siêu thiện ác, trí tuệ vô phân biệt đã rủ sạch phiền não. Loại trí tuệ này rất đặc biệt, nó phát sinh từ công hạnh tu hành theo pháp quán không mà chứng đắc. Ðây là loại trí tuệ thanh tịnh của chư Phật vừa rỗng lặng vừa suốt soi, nhờ đó mà quán chiếu được thật tướng của các pháp và thấy rõ các pháp là không có tự tánh. Ðây không phải là loại trí tuệ thế trí biện thông. Vì thế để tránh mọi ngộ nhận vô tình hay cố ý, văn học Phật giáo Trung Quốc buộc lòng phải dùng y nguyên tiếng Phạn là Bát-nhã với những chú giải kèm theo.
Ba-la-mật-đa (Pāramitā) – nghĩa là độ, tức là đưa qua sông, hay đáo bỉ ngạn, tức là đến bờ bên kia. Những thuật ngữ này có nghĩa là giải thoát khỏi khổ đau, đạt tới Niết bàn.
Tâm – là trái tim, là trung tâm, có nghĩa là cái phần tinh túy nằm ở giữa sự vật, cái cốt lõi của nó.
Tâm kinh – có thể gọi là kinh lõi, kinh ruột, kinh lòng, tức là cái toát yếu của kinh Bát-nhã.
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Bồ Tát Quán Tự Tại khi hành trì thâm sâu về trí tuệ Bát-nhã Ba-la-mật, soi thấy năm uẩn đều không, do đó vượt qua mọi khổ ách.
Bồ-tát – tiếng gọi tắt của Bồ-đề-tát-đỏa (Bodhisattva). Bồ-đề nghĩa là giác ngộ; tát-đỏa nghĩa là hữu tình, chúng sinh. Bồ-đề-tát-đỏa nghĩa là chúng sinh cầu đạo giác ngộ. Chúng sinh nào phát tâm bồ-đề, cầu đạo giác ngộ đều gọi là Bồ-tát. Tuy nhiên, có nhiều cấp bậc rất khác nhau. Từ người mới phát tâm là hạng thập tín đến những bậc công hạnh sâu dày là thập địa, có tất cả 50 bậc. Ít nhất cũng phải từ bát địa trở lên mới đương nổi công việc “thượng cầu hạ hóa”, nghĩa là trên thì cầu Phật quả, dưới thì hóa độ chúng sinh.
Bồ-tát Quán Tự Tại – tức là Bồ-tát Quán Thế Âm với công hạnh quán sát, nghe thấy tất cả những tiếng kêu cứu của chúng sinh trên cõi Ta-bà này.
Hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa – tức là hành trì, tu tập, thực hành một cách thâm sâu cái Trí tuệ Bát-nhã vi diệu. Nên biết rằng Bát-nhã Ba-la-mật-đa đòi hỏi phải dày công tu hành lắm mới thành tựu được.
Chiếu kiến – soi thấy, tự mình cảm nhận thấy.
Ngũ uẩn – năm uẩn, tức là năm nhóm hợp thành một chúng sinh, một con người. Năm nhóm ấy gồm có: sắc (sắc uẩn), tức là nhóm vật chất bao gồm bốn đại (đất, nước, gió, lửa) tạo nên xác thân con người; thọ (thọ uẩn), tức là nhóm cảm giác, bao gồm các sinh hoạt tâm lý hạ đẳng của con người; tưởng (tưởng uẩn), tức là nhóm suy tư bao gồm mọi sinh hoạt tâm lý cao cấp; hành (hành uẩn), tức là nhóm ý chí, bao gồm những sinh hoạt có tính chất bản năng và ý chí của con người; thức (thức uẩn), tức là nhóm tri giác, bao gồm mọi kiến thức trong việc nhận diện sự vật bên trong và bên ngoài con người. Năm uẩn đều không – bởi vì vô ngã cả nhân lẫn pháp nên nói là không, đây chính là nội dung của giáo nghĩa tính không Bát-nhã.
Độ nhất thiết khổ ách – vượt qua mọi khổ ách. Khổ ách có ba loại: 1/ Khổ ách do thân tâm tạo ra, gồm có: sinh, già, bệnh, chết, mong cầu mà không đạt được, người mình thù ghét mà phải gặp mặt hay phải chung sống, người mình thương yêu mà phải chia lìa. 2/ Khổ ách do thiên nhiên mang lại, như bão lụt, gió mưa, núi lửa, động đất, sóng thần… 3/ Khổ ách do xã hội tạo ra, như xung đột giai cấp, chiến tranh, cách mạng, nội chiến, bạo loạn …
Đoạn này nói rằng Bồ-tát Quán Tự Tại khi hành trì một cách thâm sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa thì soi thấy cả năm uẩn hợp thành con người đều là không, nghĩa là không có một uẩn nào có tự thể cả, nhờ đó giác ngộ được tính không và giải thoát được mọi tai ách, khổ đau.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế.
Xá Lợi Tử, còn gọi là Xá Lợi Phất (Cariputra), một trong những đại đệ tử của Đức Phật thường được Đức Phật dạy bảo. Ông được khen là Trí tuệ đệ nhất. Ông sinh tại xứ Nalada, con của ông Tishya và bà Carika. Mẹ ông - bà Carika – thông minh tuyệt vời, luận đạo và giảng kinh rất hay, hay hơn cả cha ông và cậu ông – tên là DIrghanakha, một học giả có tiếng thời đó. Xá Lợi Phất thông minh xuất chúng, diễn giảng kinh sách rất hay. Tại một cuộc lễ tại thành Vương Xá (Rajagriha) ông gặp một đạo sĩ cao tài là Mục-kiền-liên (Maudgalyayana), hai người kết bạn Họ cùng thọ giáo nơi ông San-xà-da (Sânjaya). Trước khi viên tịch, ông San-xà-da có dặn hai ông đến tầm đạo ở đức Thích-Ca vì Ngài đã thành Phật. Thọ giáo nơi đức Thích-Ca chẳng bao lâu cả hai ông Xá Lợi Phất và Mục-kiền-liên đều đắc quả La-hán. Về tuổi tác thì Xá Lợi Phất cũng cỡ với đức Phật, nhưng ông tịch trước đức Phật. Trong Kinh Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho Xá Lợi Phất, nói rõ rằng Xá Lợi Phất sẽ thành Phật, hiệu là Hoa Quang Như Lai (Padmaprabha).
Sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế - Trong năm uẩn, sắc uẩn thuộc về sắc pháp, còn bốn uẩn kia thuộc về tâm pháp. Tâm pháp là những hiện tượng tâm lý, thường hay thay đổi, không thể sờ mó, bắt, nhìn, cho nên ta nói là nó không có thực thể. Điều đó thì dễ hiểu. Nhưng sắc pháp là những hiện tượng vật chất, tự nó có vật chất làm thể, thế sao lại bảo là nó không tự thể? Vì sắc uẩn là xác thân con người, mà xác thân đó thực ra là do bốn đại tức là đất, nước, gió, lửa giả hợp mà tạo thành. Khi bốn đại giả hợp thì có xác thân, khi chúng tan rã, chia lìa thì xác thân chẳng còn nữa. Như vậy, rõ ràng là xác thân không tự thể, không thường còn, không bất biến, cho nên ta nói nó là không. Không ở đây là không có tự thể, không có bản ngã, tức là cái ngã riêng của nó, nghĩa là nó vô ngã. Bốn uẩn còn lại cũng giống như thế. Nghĩa là thọ chẳng khác gì không, không chẳng khác gì thọ, thọ tức là không, không tức là thọ. Tưởng, hành, thức cũng đều như thế.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.
Xá Lợi Tử! Tướng không của các pháp ấy chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng thêm, chẳng bớt.
Nói cái không của các pháp ấy chẳng sinh, chẳng diệt tức là nói bản thể nó thường tịch. Nói chẳng nhơ, chẳng sạch, tức là nói tác dụng của nó vô phân biệt. Nói chẳng thêm, chẳng bớt, tức là nói hiện tượng đó thường viên mãn.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức. Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc.
Cho nên trong cái không đó, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới. Không có vô minh, mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết. Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí cũng không có đắc.
Khổ, tập, diệt, đạo – bốn chân lý trong Tứ diệu đế, gồm có khổ đế (những khổ đau), tập đế (nguồn gốc của khổ đau), diệt đế (phương pháp diệt trừ khổ đau), đạo đế (con đường diệt khổ đau, tức là Bát chính đạo).
Đoạn này cho thấy trường phái Bát-nhã áp dụng luận lý phủ định lên tất cả để thuyết minh lý vô ngã một cách triệt để. Ta thấy rõ cứu cánh mà con người phải đạt được là trí (trí tuệ), vì trí có nhạy bén thì mới có giác ngộ để chấm dứt đau khổ. Giáo pháp để đối trị được cái khổ được nói rõ trong Tứ diệu đế mà cái hồn sống động của nó là Duyên khởi, khai triển thành lý mười hai nhân duyên.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn.
Vì không có sở đắc, Bồ-tát nương vào trí tuệ Bát-nhã nầy thì tâm không mắc chướng ngại, vì tâm không mắc chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết-bàn.
Bồ-đề-tát-đỏa, nói gọn là Bồ-tát (Bodhisattva).
Quái ngại – quái là bị nhốt vào lồng; ngại là bị ngăn trở từ khắp mọi phía; quái ngại là bị ngăn trở.
Đoạn này có ý nói rằng Bồ-tát nhờ hành trì quán chiếu Bát-nhã, soi thấy năm uẩn đều là không, do đó không còn chướng ngại, nên được tự tại thoát khỏi vòng nghi mà bấy lâu giam hãm mình vào trong. Sau khi giải tỏa mối nghi đó rồi thì không còn sợ hãi, xa lìa những điên đảo mộng tưởng của cuộc sống và đạt được Niết-bàn, tức là được giải thoát, được giác ngộ.
Tam thế chư Phật, y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la-Tam-miệu-Tam-bồ-đề.
Chư Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát-nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.
Tam thế là ba thời, ba đời, tức là đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai.
Tam thế chư Phật là chư Phật thời xưa, chư Phật thời nay và chư Phật thời sau.
A-nậu-đa-la-Tam-miệu-Tam-bồ-đề - từ ngữ phiên âm từ tiếng Phạn Anuttara-Samyas-Sambôdhi nghĩa là vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức là Phật quả hay quả Phật Như lai.
Đoạn này có ý nói rằng Bồ-tát trên tiến trình tu hành nhờ nương vào quán chiếu Bát-nhã mà được giải thoát và đạt được Niết-bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nhờ nương theo pháp quán chiếu Bát-nhã đó mà đắc được Phật quả, tức là đắc được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cho nên phải biết rằng Bát-nhã Ba-la-mật-đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp không gì sánh bằng, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối.
Thần chú, tiếng Phạn là mantra, tiếng Hán phiên âm mạn-trà hay mạn-đà-la. Theo nghĩa hẹp mạn-trà là những lời cầu nguyện, ý nghĩa rất bí hiểm, khi đọc lên có tác dụng biến hóa ra các hiện tượng thiên nhiên, cả lành lẫn dữ. Theo nghĩa rộng mạn-trà (hay thần chú) là cái gậy cho ta suy nghĩ, có công năng nắm giữ, thâu tóm mọi nghĩa lý, làm tiền đề cho việc tham khảo của ta, từ đó đẻ ra mọi công đức, mọi diệu dụng. Trong nghĩa này, mạn-trà (hay thần chú) thuộc về chú đà-la-ni (Dhârani).
Đại thần chú là chú thần lớn, chú có thần lực vĩ đại có thể chuyển dời, thay đổi mọi việc.Phép tu quán chiếu Bát-nhã khêu sáng trí tuệ, do đó sinh tử trở thành Niết-bàn, phiền não chuyển thành Bồ-đề, nên gọi là đại thần chú.
Đại minh chú là chú minh lớn. Thần chú trí tuệ ấy chiếu vào thì phá vỡ vô minh, trừ diệt phiền não nên gọi là đại minh chú, nghĩa là chú cực kỳ sáng chói, chú minh lớn.
Vô thượng chú là chú vô thượng. Chính nhờ thần chú trí tuệ ấy mà chứng được vô thượng Niết-bàn nên gọi là chú vô thượng, nghĩa là chú không có gì cao hơn nó nữa.,
Vô đẳng đẳng chú là chú vô đẳng đẳng, nghĩa là chú cao cấp không có gì sánh bằng với nó. Chính cũng nhờ thần chú trí tuệ ấy mà được vô thượng bồ-đề nên mới coi là chú vô đẳng đẳng.
Đoạn này có ý nói rằng, vì phép tu quán chiếu Bát nhã có công đức to lớn như thế, nên đức Phật đã tán thán và tôn xưng phép tu ấy như là thần chú. Chú đó trừ được tất cả các khổ nạn. nó là chân thật, không hư dối.
Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
Cho nên nói đến chú Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thì phải nói câu chú:
Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà.

Tức thuyết chú viết - nghĩa đen là liền nói chú rằng.
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha (Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà) – cấu chú vốn là mật ngữ (lời bí mật), mà đã là bí mật thì làm sao mà cắt nghĩa được. Tuy nhiên, dựa vào sự cấu tạo của câu chú này có thể suy đoán một cách thô sơ nghĩa một số chữ. Yết đế tiếng Phạn là Gate, nghĩa là đi qua, vượt qua. Có nhà sư giảng Yết đế lặp lại hai lần, có nghĩa là độ cho mình và độ cho người. Ba la yết đế tiếng Phạn là Pàragate, nghĩa là đi qua bờ bên kia. Ba la tăng yết đế tiếng Phạn là Pàrasamgate, nghĩa là đi qua bờ bên kia hoàn toàn. Bồ đề tiếng Phạn là Bodhi, nghĩa là giác ngộ. Tát bà ha tiếng Phạn là Svàhà, nghĩa là Ngài khéo nói. Như vậy có thể tạm hiểu câu chú đó như thế này:
Qua đi, qua đi, qua bờ bên kia đi, hoàn toàn qua bờ bên kia đi, thì có bồ đề. Ngài khéo nói như vậy
 

 

  • Tôn ảnh Phật, Bồ Tát

  •    

      

    Đề mục kinh điển PG