10 ĐẠI ĐỂ TỬ PHẬT

   6. Tôn giả Ca Chiên Diên - Nghị luận đệ nhất

   Tôn giả Ca Chiên Diên vốn tên gọi là Na-la-đà, con thứ hai của quốc sư Ca Chiên Diên. Ca Chiên Diên là họ, về sau Tôn giả nổi tiếng nên mọi người dùng họ để thay tên gọi. Tôn giả Ca Chiên Diên rất giỏi biện luận, không kể người đó là Bà-la-môn quyền uy đến đâu, khi gặp mặt, Tôn giả chỉ dùng vài lời ngắn gọn đều khiến kẻ vấn nạn phải vui vẻ khâm phục.

Có một lần, Tôn giả gặp một ngoại đạo theo chủ trương “đoạn kiến”; vị ngoại đạo “đoạn kiến” này chuyên môn cho rằng tất cả sự việc đều là “đoạn”—không có gì cả, tất cả đều là không. Ông nói: “Trong Phật giáo của Ngài cho rằng ‘con người chết rồi vẫn còn kiếp sau’; còn đạo của tôi thì nói rằng ‘con người chết rồi không có kiếp sau.’ Tôi có một minh chứng muốn nói cho Ngài nghe!” Minh chứng gì vậy? Ông bảo: “Ngài nói con người chết rồi còn có kiếp sau, phải đi thọ khổ; nhưng theo tôi được biết thì những người chết rồi, không có ai trở về nói lại là mình phải chịu khổ gì! Tôi chưa hề thấy qua! Thế thì tại sao Ngài nói là có kiếp sau? Người chết thì giống như đèn hết dầu, không hề có kiếp sau!”

Tôn giả bèn trả lời vị ngoại đạo rằng: “Ồ! Ông nói người chết không trở lại à? Giả như có người phạm tội, bị người ta bắt đi để luận tội, còng lại và đưa vào nhà tù, thì người ấy có thể trở về nhà được chăng?”

Vị ngoại đạo nghe xong liền hỏi Tôn giả Ca Chiên Diên: “Ngài nói người chết đi, giống như kẻ phạm tội bị trói lại đưa vào nhà tù, cho nên không được tự do, không thể trở về; thế nhưng nếu như nói được sanh lên trời, thì tôi cũng chưa thấy người nào được sanh lên trời mà trở lại bảo với mọi người: ‘Tôi được sanh lên trời rồi!’ Trường hợp này phải giảng như thế nào đây? Đọa địa ngục thì không được tự do, không thể trở về; nhưng sanh lên trời thì được tự do, đáng lẽ những người ấy phải trở lại nói sơ về tình hình của mình chứ! Tại sao những người được sanh lên trời, cũng không thấy có ai trở lại cả?”

Tôn giả Ca Chiên Diên đáp rằng: “Ồ! Ông nói rất có lý! Nhưng ông phải biết, người được sanh lên trời giống như người bò ra khỏi nhà xí, được dùng nước trong tẩy rửa sạch sẽ; thế thì thử hỏi người ấy còn muốn chạy vào nhà xí, để phẩn dính lên người nữa không?” Chao ôi! Vị ngoại đạo này không còn lời gì để nói!

Tôn giả Ca Chiên Diên lại bảo: “Còn một điều nữa là một ngày một đêm trên cõi trời Đao Lợi dài bằng 100 năm ở cõi nhân gian chúng ta; ông thử nghĩ xem: Sau khi được sanh lên cõi trời rồi, người ấy còn phải sắp xếp công việc của mình, bày trí lại tất cả, có phải không? Đợi đến khi người ấy nghỉ ngơi xong, muốn quay trở lại, thì lúc ấy ông đã chết mất rồi! Một ngày một đêm ở chỗ của người ấy thì bằng 100 năm ở nhân gian, thời gian năm ba ngày người ấy ở trên đó sẽ bằng với mấy trăm năm ở cõi người chúng ta; lúc ấy ông đã chết từ lâu, xương cốt đều tan rã, ông còn có thể biết được người ấy trở về hay không?” Vị ngoại đạo nghe xong cũng không còn lời nào để nói.

Cho nên, Tôn giả Ca Chiên Diên được tôn xưng là bậc “Luận nghị đệ nhất”. Mười đệ tử lớn của Phật, mỗi vị đều có một sở trường rìêng, sở trường của Tôn giả Ca Chiên Diên chính là luận nghị, chuyên môn biện luận về đạo lý. Quý vị có thắc mắc về đạo lý gì muốn hỏi Tôn giả, với tài biện luận của mình, Tôn giả có thể nói thao thao bất tuyệt, khiến cho người nghe say sưa thích thú.

Taị nước A Bàn Ðề, trên đường đi du hóa, Ca Chiên Diên gặp một người đàn bà ôm một vò nước ngồi khóc nỉ non bên bờ sông. Thấy cảnh đáng thương Ngài dừng bước hỏi:

· Tại sao lại khóc lóc thê thảm như thế? Hãy cho biết lý do thử xem tôi có giúp ích gì được cho bà chăng?

· Chắc ông không giúp được gì đâu? Bà lão nói.

· Nếu không giúp được vật chất tôi có thể giúp cho bà phương pháp giải quyết, Ngài đáp.

· Ðời thật là bất công! Bà lão nói, người giàu thì càng giàu thêm, dư ăn dư xài, kho lẫm tràn đầy, ngược lại người nghèo ngày càng xơ xác, đổ mồ hôi mà vẫn không đủ ăn. Cái khó lại bó cái khôn! không có cách xoay xở. Tôi sinh ra trong một gia đình nô lệ khốn cùng, từ khi chào đời đến nay không lúc nào mà cái khổ không đeo đẳng. Vì thế đến nay tôi không còn sức chịu đựng, chỉ muốn đi tìm cái chết may ra mới hết khổ.

· Thôi đừng khóc lóc nữa, trong cuộc đời này đâu phải chỉ có bà nghèo. Thiên hạ phần đông là người nghèo, bà thử xem tại nước này có bao nhiêu là nhà giàu. Với những thứ tiền của tràn đầy kho lẫm, chắc gì những người giàu đã là không khổ? Vì lòng tham ô không đáy có một họ lại muốn mười. Lòng tham dục hành hạ con người ghê gớm lắm! Bởi thế tuy nghèo, nhưng lòng không dơ bợn, biết vừa đủ là thấy thoải mái hơn. Ðức Phật đã nói: "Người giàu tuy ở thiên đường cũng không vừa ý, người nghèo biết vừa đủ tuy nằm dưới đất vẫn thấy an lạc."

· Ðó là lý thuyết thôi Ngài ơi! Thực tế khác hẳn. Người giàu khác với kẻ nghèo, vì muốn ăn là có ăn, muốn mặc là có mặc. Họ bỏ tiền ra là muốn gì cũng được. Còn nghèo như tôi suốt đời làm nô lệ, làm việc quần quật cả ngày mà đôi lúc còn bị roi vọt, chửi rủa, thức từ 4,5 giờ sáng đến quá 12 giờ đêm mà cơm không đủ no, quần áo rách tả tơi, cái nghèo đeo đẳng suốt đời, vì thế tôi muốn chết may ra mới hết thống khổ

· Vậy bà hãy bán cái nghèo đi.

· Cái nghèo đâu có bán được, ai lại dại dột mà đi mua cái nghèo.

· Nếu bà chịu bán tôi sẵn sàng mua.

· Thôi đừng đùa, tội quá Ngài ơi!

· Tôi tu hành nên không có nói đùa đâu, tôi mua thật. Cái nghèo có thể bán lắm chứ? Có điều là người ta không biết cách bán, phương pháp bán nghèo là bố thí. Mọi sự kiện trên đời đều có nguyên nhân. Giàu là kết quả của sự tu phước bố thí, còn nghèo là vì đã quá keo kiệt. Vì thế thực hành bố thí là phương pháp bán nghèo.

· Nhưng tôi nghèo quá biết lấy gì mà bố thí, cái vò trong tay tôi là của chủ Bà La Môn tôi đâu có đem bố thí được. Lỡ tay làm bể là đã bị ăn đòn, huống gì là đem bố thí cho người khác.

· Tôi đang khát nước vậy bà hãy đem vò nước xuống sông múc nước bố thí cho tôi.

Nghe xong bà liền đi múc nước bố thí và tỉnh ngộ. Nhờ Ca Chiên Diên chỉ dẫn, bà thường làm việc bố thí, lòng được thoải mái và cuộc đời trở nên an lạc hơn trước. Nhờ tài luận nghị, suốt cuộc đời đi giáo hóa Ngài đã cảm hóa được nhiều người, dẫn dắt người nghèo về với Ðức Phật, khiến ai cũng cảm thấy an lạc ngay trên cõi đời này.

   7. Tôn giả Phú Lâu Na - Thuyết pháp đệ nhất

   Tôn giả Phú Lâu Na vốn được gọi là "Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử". Phú Lâu Na chỉ là tiếng gọi tắt. Danh hiệu Ngài dài như thế chính là biểu hiện cho Tôn giả khi thuyết pháp cũng trường mãn vô cùng. Danh xưng của Ngài được dịch sang tiếng Trung Hoa là "Mãn Từ Tử". Đức Phật thường ngợi khen biện tài ngôn luận của Tôn giả trước đại chúng.

"Các ông cũng nên xưng tán Phú-lâu-na. Ta thường khen ông ấy là bậc nhất trong hạng người thuyết pháp. Ông ấy thâm nhập biển Phật pháp hay làm lợi ích cho tất cả người đồng tu học đạo, trừ đức Phật ra, không ai có thể biện bác ngôn luận với ông. Các ông chớ tưởng rằng Phú-lâu-na chỉ giúp ta tuyên thuyết chánh pháp, ông ấy ở thời quá khứ chín mươi ức cõi Phật đều hộ trì trợ duyên Phật pháp, đều được xưng là Thuyết pháp đệ nhất."

Trong sự nghiệp thuyết pháp độ sinh, Tôn giả không cần khen ngợi, cung kính, không ngại khó khăn, gian khổ. Dù những nơi hẻo lánh xa xôi, đầy ác độc, Ngài cũng nhiệt tình tìm cách đến đó truyền bá chính pháp.

Theo thông lệ hàng năm sau mùa an cư, Phật lại phân bố các đệ tử đến các địa phương truyền đạo. Trong danh sách các giáo khu Tôn giả thấy không có tên nước Duna. Phú Lâu Na hỏi Phật lý do, Phật cho hay nơi đó quá xa xôi hẻo lánh, đường đi hiểm trở, dân tình lại rất dã man bạo ngược. Vì ngại nguy hiểm đến tính mạng Tăng sĩ, nên Phật không ghi tên nước Duna vào danh sách và phân bố chúng đệ tử đi đến đó thuyết giáo. Phú Lâu Na xin Phật được đến đó bố giáo. Phật hỏi: Ông không sợ nguy hiểm sao? Phú Lâu Na bạch Phật:

     - Bạch Ðức Thế Tôn! Người xuất gia phải có chí thượng cầu hạ hóa, muốn thành tựu sự nghiệp dù ở lãnh vực nào, con người cần phải vượt qua khó khăn gian khổ, chông gai là điều kiện thử thách con người. Ánh sáng Phật pháp cần bình đẳng soi rọi khắp nơi. Có ánh sáng Phật pháp con người mới được cải thiện, bóng tối mê muội được đánh tan, nên con nguyện đến đó để thuyết pháp dù có thịt nát xương tan.

     Ðức Phật hỏi: Nầy Phú Lâu Na! Giả sử đến Du Na người ta chửi rủa nhục mạ ông, thì ông nghĩ sao và xử lý bằng cách nào?

     - Bạch Ðức Thế Tôn! Họ vẫn còn tốt đối với con vì họ chỉ chửi mắng mà chưa đem gậy gộc để đánh con.

     - Nếu họ dùng roi gậy đánh ông thì ông nghĩ sao?

     - Con thấy họ vẫn còn tốt, vì họ chỉ mới rượt đuổi mà chưa gây thương tích cho con.

     - Nếu họ dùng dao búa gây thương tích cho ông?

     - Con vẫn còn cảm ơn họ vì họ còn lương tri chưa nở giết chết con.

     - Nếu họ giết ông?

     - Con lại cảm ơn họ bội phần, vì họ đã giúp con từ bỏ xác thân hư ảo, ô trược, sớm nhập Niết Bàn. Ðó là một dịp may hiếm có, chết vì truyền bá chánh pháp, con sẵn sàng đón nhận mà không có gì ân hận.

Với những lời dũng cảm chưa từng nghe, Phật cảm động khen rằng:

     - Nầy Phú Lâu Na! Ông là một con người can đảm xứng đáng là đệ tử của ta, hạnh tu đạo bố giáo nhẫn nhục của ông thật là siêu tuyệt hiếm có.

Phú-lâu-na được Phật khuyến khích rất cảm động, tâm bố giáo bất thối chuyển càng tăng cường mạnh mẽ. Tôn giả đảnh lễ Phật xong, thẳng đến nước Du-lô-na giữa những tiếng hoan nghinh đưa tiễn của chúng Tỳ-kheo. Chẳng bao lâu, dân nước Du-lô-na đều quy y Phật, và tại đây, Tôn giả thâu phục năm trăm đệ tử, thành lập năm trăm ngôi tinh xá.

   8. Tôn giả A Na Luật - Thiên nhãn đệ nhất

   A Na Luật sanh trong dòng dõi vua chúa, vốn là em của Thái tử Sĩ Đạt Ta. Sau ngày Tịnh Phạn Vương băng hà, đại tướng Ma Ha Nam lên nối ngôi, là anh ruột của A Na Luật. Tuổi thơ của A Na Luật, vốn là một đứa trẻ thiên tư hoạt bát, rất thông minh mẫn tiệp, đối với âm nhạc, kỹ thuậ dường như có tài đặc biệt. Năm bảy, tám tuổi thường ca hát trước đông người, làm những điệu bộ khôi hài khiến ai nấy đều bậc cười. Đó là một chú bé được mọi người yêu mến.

Lúc đức Phật thành đạo và trở về thành Ca Tỳ La thuyết pháp giáo hóa. Sức cảm hóa của Thế Tôn rất mạnh, chẳng bao lâu trong hoàng tộc nhiều người quy y Phật, xuống tóc xuất gia. Điều ấy khiến các vương tử thanh niên chấn động, A Na Luật cũng nằm trong tình hình ấy, lập chí xuất gia theo Phật.

Nhân một lần bị Phật quở khi Tôn giả ngủ gục trong lúc đang nghe pháp, Tôn giả lập thệ không ngủ nghỉ nữa. Vì dụng công tu tập quá mức, chẳng bao lâu Ton giả bị mù hai mắt. Đức Phật dạy Tôn giả tu tập "Kim cang chiếu minh tam muội" chẳng bao lâu A Na Luật chứng được thiên nhãn thông.

Thiên nhãn có thể thấy khắp, không phân biệt gần xa, không kể trong ngoài. A-na-luật mất nhục nhãn mà được thiên nhãn như thế, chúng Tăng đều ái mộ, kính trọng Tôn giả. Điều đó tức nhiên là do sức từ bi của Phật gia hộ, nhưng cũng do chí nguyện kiên quyết tu hành của Tôn giả mới được thành tựu. Từ đó, A-na-luật đối với việc vá y, trì bát không còn lo lắng, chỗ người khác không nhìn thấy tôn giả đều thấu rõ. Trong kinh A Di Đà, đã đặc biệt nêu đại danh A-na-luật trong hàng thánh đệ tử, vì thiên nhãn của Tôn giả có thể thấy được thế giới Cực Lạc ở phương Tây, dùng thiên nhãn để chứng minh cho hàng chúng sanh sơ học dễ sanh lòng tin tưởng vào cõi nước của Phật A-di-đà.

Thiên nhãn của Tôn giả không những chỉ thấy thế giới Cực Lạc, mà cũng thấy mọi tình hình ở chốn địa ngục. Một hôm, Tôn giả nhìn thấy rất nhiều phụ nữ bị đọa trong địa ngục, bèn đến hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn! Hôm nay con thấy có rất nhiều phụ nữ bị sa đọa vào địa ngục. Theo con thấy, người nữ rất dễ tín phụng lời Phật dạy, người nữ nhiều lòng nhân từ hơn nam giới, vì cớ sao họ lại bị đọa vào địa ngục nhiều hơn?

- Này A-na-luật! Trong Phật pháp, người nữ dễ tín phụng đó là sự thật, nhưng người nữ dễ tạo tội cũng là một sự hiển nhiên. Người nữ có ba thứ tâm lớn hơn nam giới. Thứ nhất, mỗi sáng sớm mới thức giấc, tâm tham lam của nữ nhân rất nặng, họ mong rằng tất cả tài bảo trên thế giới đều gom vào nhà mình. Thứ hai, lúc ban trưa, tâm tật đố của họ tăng lớn mạnh, cảm thấy rằng toàn thể nhân loại đều làm chướng ngại mình. Thứ ba, lúc xế chiều, tâm dâm dục của họ lẫy lừng, lúc nào cũng mong có người dựa kề bên mình. A-na-luật! Tâm tham lam, tật đố, dâm dục của nữ nhân rất dễ chiêu cảm họ phạm tội. Đó là nguyên nhân khiến họ đọa địa ngục rất nhiều.

Nhân sức thiên nhãn của Tôn giả thấy người nữ đọa địa ngục đã khiến đức Phật thuyết một bài pháp cho hàng tín nữ hôm ấy, khiến các bà, các cô một phen chứng kiến mà tỉnh ngộ.

   9. Tôn giả Ưu Bà Ly - Trì giới đệ nhất

   Từ nhỏ Ưu Ba Ly đã không được hưởng quyền lợi về học vấn. Người của dòng Thủ Đà La mà muốn học tập pháp điển Mã Nổ của Bà-la-môn là một vọng tưởng hão huyền. Đến tuổi trưởng thành, Tôn giả được xuất gia theo Phật. Mùa hạ trong năm Ưu Ba Ly xuất gia, đang khi chúng Tăng cử hành lễ an cư, Ưu Ba Ly đã tinh tấn tu đạo và khai ngộ. Do đó, Tôn giả đã thành một bậc thượng thủ trong Tăng đoàn, được sự cung kính của hai chúng tại gia, xuất gia. Việc ấy cũng làm nhiều người kinh ngạc. Một người thuộc dòng Thủ Đà La thấp hèn mà căn cơ mẫn tuệ đến như vậy, đó không những làm rạng rỡ cho dòng Thủ Đà La, mà cũng làm vẻ vang cho tinh thần bình đẳng của Phật Giáo.

Là vị giữ giới đệ nhất, Tôn giả luôn luôn quan tâm đến các vấn đề pháp chế, nhưng quan trọng nhất vẫn là vấn đề phá tăng và hòa tăng. Chư Tăng sống theo hạnh lục hòa, cho nên nếu bất hòa là mối tai họa lớn lao. Với tập thể, có hòa hợp mới dễ dàng thành tựu các hoạt vụ, nhỏ như một gia đình có thuận vợ thuận chồng mới tát cạn bể đông. Bởi thế khi họp tăng làm phép yết ma, vị thủ tọa hỏi tăng đã họp xong chưa rồi lại hỏi: Tăng có hòa hợp không? Nếu Tăng không hòa hợp là Yết ma không thành. Một hôm tại thành Xá Vệ, Ưu Ba Ly hỏi Phật rằng:

· Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Phá hòa hợp Tăng?

· Này Ưu Ba Ly! Nếu trong Tăng đoàn, có người hay chỉ trích, chê bai, đâm thọc để các Tỳ kheo phải tỵ hiềm nhau, hoặc gây sự bất ổn, đó là phá sự hòa hợp Tăng. Nếu đối với chư Tăng, có Phật tử tại gia tạo sự bất hòa phân chia nhân ngã, khiêu khích làm chia rẽ tăng đoàn, làm rối loạn mất hòa khí, gọi đó là phá hòa hợp tăng. Ngoài đời, nếu chính quyền chen vào nội bộ tăng đoàn, tự viện, chỉ trích này nọ, hoặc yêu cầu trục xuất tăng ni ra khỏi tự viện, tăng đoàn gọi đó là phá hòa hợp tăng. Người phá hòa hợp tăng mang tội rất nặng, chết đọa vào địa ngục chịu các cực hình trong thời gian một kiếp.

· Bạch Thế Tôn! Còn thế nào gọi là hòa hợp tăng?

· Này Ưu Ba Ly! Người lễ bái cúng dường, hỗ trợ tùy thuận ngợi khen các tỳ kheo đúng phép, đúng luật gọi đó là hòa hợp tăng.

· Người đem lại hòa hợp tăng được những công đức gì?

· Công đức người tạo hòa hợp tăng được sinh vào thế giới có nhiều phước báu, hưởng các lạc thú trọn kiếp.

Đức Phật lúc sắp Niết Bàn dặn dò đệ tử sau khi Ngài nhập Niết Bàn cần lấy giới luật làm thầy, chính là cần đệ tử mình nơi mọi cử chỉ hành vi trong sinh hoạt hàng ngày thường, đâu đâu cũng phải lưu tâm cẩn thận. Tùy thời quán chiếu lời nói và hành động chính mình, có trái phạm vào giời luật của Phật hay không. Luôn kiểm điểm lỗi mình, ngày ngày phải sám hối tội lỗi. Có được giới hạnh, tự nhiên sinh ra định lực, không đến nỗi theo duyên lưu chuyển, hoặc bị ảnh hưởng trần cảnh bên ngoài. Phải có định lực mới phát sinh trí tuệ, có thể phân biệt rõ ràng phải trái thiện ác. Chính vì sự quan trọng của giới luật và vì Tôn giả Ưu Bà Ly am hiểu giới luật tốt nhất nên Ngài Ma Ha Ca Diếp đã giao cho Ư Bà Ly đọc giới luật trong đợt kiết tập kinh điển lần thứ nhất.

   10. Tôn giả La Hầu La - Mật hạnh đệ nhất

   Đức Phật khi còn là Thái tử của vương thành Ca Tỳ La, đã kết hôn với công chúa Da Du Đà La thành Câu Lợi. Vào năm thái tử và công chúa mười chín tuổi, sanh hạ La Hầu La. Thái tử rất vui mừng, nhưng đó không phải là sự vui mừng tình thường người đời sanh con. Vì thái tử đã nhiều lần xin vua cha xuất gia, đều không được chấp thuận. Vua Tịnh Phạn có nói "Trừ phi có được đứa cháu đích tôn thì mới cho phép thái tử xuất gia". Hiện tại thái tử đã có La Hầu La như ý phụ vương, nguyện vọng xuất gia sẽ thành được, bảo sao thái tử không vui mừng.

Khi La Hầu La được 7 ngày tuổi, Thái tử Sĩ Đạt Ta xuất thành tầm đạo và trong suốt mười năm theo đó, La Hầu La chưa một lần nhìn thấy mặt cha.

Khi Phật thành đạo, Ngài trở về thành Ca Tỳ La. Da Du Đà La bảo con rằng: " Con hãy theo phụ thân xin tài sản đi, cha con có những châu báu mà chúng ta chưa được thấy." Không bao lầu sau, La Hầu La được xuất gia theo Phật và trở thành vị Sa Di đầu tiên trong Tăng đoàn, dưới sự dìu dắt trực tiếp của Tôn giả Xá Lợi Phất.

Tôn giả La Hầu La được gọi là mật hạnh, nghĩa là trong ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, La-hầu-la đều biết hết, đều có thể làm hết. Nghĩ đến hồi ban đầu, La-hầu-la theo Phật xin gia tài, đến khi Tôn giả chứng ngộ là đã được đức Phật trao cho pháp tài vô tận. Nghĩ đến thuở còn Sadi nhỏ tuổi gia nhập Tăng đoàn, đã làm bận lòng đức Phật không biết bao nhiêu, hiện tại Tôn giả đã xa lìa mọi dục lạc thế gian, đạt được niềm vui chơn chánh của pháp mầu. Thật là vinh hạnh cho Tôn giả.

          Quay lại

   Quý Đạo hữu muốn đọc kỹ hơn về cuộc đời của 10 vị Đại đệ tử Phật thì xin bấm vào đây để  xem và tải về

 

Mục lục Tôn ảnh

 

Đức Phật Thích Ca

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

Phổ Hiền Bồ Tát

Phật A Di Đà

Quán Thế Âm Bồ Tát

Đại Thế Chí Bồ Tát

Phật Dược Sư

Di Lặc Bồ Tát

Địa Tạng Vương Bồ Tát

Chuẩn Đề Bồ Tát

10 Đại Đệ Tử Phật

Đạt Ma Sư Tổ

Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát

18 Vị A La Hán

88 Vị Phật Hồng danh

7 Vị Phật quá khứ

Pháp sư Huyền Trang

 

Tôn ảnh Phật ngọc

 

 

   Phật ngọc là biểu tượng cho hòa bình thế giới. Tượng Phật cao 2 mét 7 được đặt trên pháp tòa có chiều cao 1 mét 4, với trọng lượng nặng trên 4 tấn.     

Đọc tiếp  

 

  • Hội PG Thảo Đường

  •    Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moskva thành lập ngày 04 tháng 06 năm 1993. Hội trưởng của Hội Phật Giáo Thảo Đường từ ngày thành lập đến nay là bà Inna Malkhanova.

    Đọc tiếp  

     

    Lịch sinh hoạt Phật sự

    •    Hàng tháng, Hội Phật giáo Thảo Đường tổ chức tụng kinh vào 2 ngày: Mồng một và ngày rằm. Khi có lễ lớn hoặc nhân dịp quý Thầy sang, Hội sẽ thông báo cụ thể.

    • Xem lịch sinh hoạt  


      Hình ảnh sinh hoạt

    •    Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Phật giáo Thảo Đường đã tổ chức nhiều buổi lễ trang nghiêm và cũng nhiều lần cung thỉnh các Thầy về để giúp cho các Phật tử của Hội hiểu thêm giáo lý của Đức Phật, tăng trưởng đạo tâm.

    • Bấm để xem ảnh  

     

     

     

    Các trang web liên kết